Thu nhập hoạt động chỉ tăng 5%, tín dụng bán lẻ tại ACB phục hồi chậm trong nửa đầu năm 2026
Dù lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 của Ngân hàng TMCP Á Châu (HOSE: ACB) đạt hơn 10.700 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng tổng thu nhập hoạt động chỉ ở mức một chữ số. Động lực huy động vốn của ngân hàng đang phụ thuộc phần lớn vào chứng chỉ tiền gửi, trong khi phân khúc tín dụng cốt lõi là bán lẻ và SME cho thấy tốc độ phục hồi chậm.
Thu nhập hoạt động tăng trưởng khiêm tốn, vắng bóng nguồn thu đột biến
Theo báo cáo kết quả kinh doanh bán niên 2026, ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 10.700 tỷ đồng. Tuy nhiên, tổng thu nhập hoạt động (TOI) của toàn hệ thống chỉ đạt hơn 18.000 tỷ đồng, tương đương mức tăng nhẹ 5% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng TOI khiêm tốn này phản ánh việc ngân hàng không còn các khoản thu nhập bất thường (one-off) đóng góp vào cơ cấu doanh thu như giai đoạn trước.
Trong tổng thu nhập, thu nhập lãi thuần mang về gần 14.800 tỷ đồng (tăng 13,3%), trong khi lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh khác chỉ dừng ở mức hơn 1.455 tỷ đồng. Đối với nhóm công ty con, dù ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế 42% (nổi bật là ACBS đạt 737 tỷ đồng), tỷ trọng đóng góp của toàn bộ khối công ty thành viên vào tổng lợi nhuận hợp nhất của ACB vẫn ở mức thấp, chỉ chiếm gần 8%. Bức tranh tài chính của ngân hàng vẫn phải dựa chủ yếu vào mảng kinh doanh cốt lõi từ ngân hàng mẹ cùng việc cắt giảm chi phí (tỷ lệ chi phí trên thu nhập - CIR quý II được ép xuống dưới 30%).
Tín dụng bán lẻ chậm nhịp, cơ cấu cho vay dựa vào khách hàng doanh nghiệp
Tính đến cuối quý II/2026, quy mô tín dụng của ACB đạt gần 746.000 tỷ đồng, tăng 8,6% so với thời điểm đầu năm. Tuy nhiên, cấu trúc tăng trưởng cho thấy sự dịch chuyển so với định hướng bán lẻ truyền thống. Động lực tín dụng chính trong nửa đầu năm đến từ phân khúc khách hàng doanh nghiệp lớn, đặc biệt tại các lĩnh vực thương mại và chế biến - chế tạo.
Ngược lại, phân khúc cốt lõi của ACB là khách hàng cá nhân (bán lẻ) và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ghi nhận sự đình trệ trong những tháng đầu năm. Phải bước sang quý II/2026, hai nhóm này mới ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt 3,8% và 5% so với dư nợ cuối quý I. Dù biên lãi ròng (NIM) quý II cải thiện lên mức 3,02%, mức tăng thực tế chỉ nhích thêm 0,2 điểm phần trăm so với quý I, cho thấy khả năng sinh lời từ hoạt động cốt lõi vẫn chịu áp lực.
Tỷ lệ CASA đi ngang, huy động vốn phụ thuộc công cụ chi phí cao
Về huy động vốn, tổng quy mô tiền gửi của khách hàng tại ACB đạt gần 776.000 tỷ đồng tại thời điểm 30/6/2026, tăng 8% so với đầu năm. Dữ liệu chi tiết chỉ ra mức tăng trưởng huy động này không đến từ nguồn vốn giá rẻ mà phụ thuộc nặng nề vào sản phẩm Chứng chỉ tiền gửi - công cụ huy động thường đòi hỏi ngân hàng phải trả mức lãi suất cao hơn so với tiết kiệm thông thường.
Cụ thể, huy động qua chứng chỉ tiền gửi đạt hơn 30.500 tỷ đồng, tăng gấp 15 lần (tương đương tăng 258%) so với thời điểm đầu năm. Riêng lượng tiền hút về từ chứng chỉ tiền gửi đã chiếm tới gần 93% tổng mức tăng trưởng huy động của ACB trong 6 tháng đầu năm.
Trái ngược với sự bùng nổ của chứng chỉ tiền gửi, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) - nguồn vốn giá rẻ giúp các ngân hàng tối ưu biên lợi nhuận - chỉ duy trì ở mức 22%, không ghi nhận sự bứt phá. Việc phụ thuộc vào nguồn vốn chi phí cao đặt ra áp lực lớn lên chi phí huy động của ACB trong bối cảnh mặt bằng lãi suất biến động.
Bộ đệm dự phòng ở mức vừa phải
Dưới áp lực của môi trường vĩ mô, tỷ lệ nợ xấu của ACB tại thời điểm cuối quý II/2026 ở mức 1%. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) của ngân hàng hiện duy trì ở mức 105%. Đây là mức dự phòng vừa đủ để bao phủ các khoản nợ nhóm 3-5, nhưng đã mỏng hơn đáng kể nếu so sánh với tỷ lệ dự phòng trên 200% mà một số nhà băng từng thiết lập trong giai đoạn trước.
Về các chỉ số thanh khoản, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn đang ở mức 29,1% (so với trần 40% của NHNN) và tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) đạt 81,4% (so với trần 85%). Dù vẫn nằm trong ngưỡng an toàn, ngân hàng đã phải tiến hành phát hành cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 13% để nâng vốn điều lệ lên 58.000 tỷ đồng, qua đó giữ tỷ lệ an toàn vốn (CAR) ở mức 11,8% nhằm đảm bảo nguồn lực đối phó với các rủi ro hoạt động và nhu cầu cấp vốn trong giai đoạn tiếp theo.









