Thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân: Cần xây dựng nền tảng tài chính vững chắc
Mục tiêu bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân không chỉ mở rộng cơ hội cho người dân tiếp cận dịch vụ y tế, giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh mà còn góp phần bảo đảm an sinh xã hội bền vững. Song để hiện thực hóa mục tiêu này, y tế Việt Nam cần một nền tảng tài chính vững chắc với nguồn lực được huy động và phân bổ hiệu quả.

Khoảng trống tài chính trên hành trình bao phủ BHYT
BHYT là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước. Qua hơn 16 năm triển khai Luật BHYT, chính sách BHYT đã từng bước được hoàn thiện theo hướng mở rộng diện bao phủ, nâng cao quyền lợi và cải thiện chất lượng phục vụ. Từ một chính sách chủ yếu hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh, BHYT ngày càng khẳng định vai trò là cơ chế chia sẻ rủi ro hiệu quả giữa những người tham gia, thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe.
Theo Báo cáo của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, đến hết tháng 6/2026, cả nước có khoảng 99,1 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 96,91% dân số. Kết quả này cho thấy chính sách BHYT đang ngày càng đi sâu vào đời sống, tiến gần tới mục tiêu bao phủ toàn dân vào năm 2030 theo định hướng tại Nghị quyết số 72-NQ/TW. Tuy nhiên, cùng với độ bao phủ mở rộng, nhu cầu khám, chữa bệnh và chi trả từ quỹ BHYT cũng gia tăng, đặt ra áp lực ngày càng lớn đối với nguồn tài chính của hệ thống y tế Việt Nam.
Áp lực này càng rõ nét khi Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép, trong đó bệnh truyền nhiễm vẫn tiềm ẩn, còn bệnh không lây nhiễm và già hóa dân số ngày càng gia tăng. Hiện bệnh không lây nhiễm chiếm 81% số ca tử vong tại Việt Nam. Đây là nhóm bệnh cần điều trị kéo dài, sử dụng thuốc thường xuyên và theo dõi liên tục, khiến chi phí chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn. Tương tự, quá trình già hóa dân số cũng làm gia tăng chi phí khám, chữa bệnh của người dân.
Quy mô chi phí khám, chữa bệnh BHYT đã phản ánh rõ xu hướng này. Qua 14 năm, chi phí khám, chữa bệnh BHYT đã tăng khoảng 8 lần, lên khoảng 123.000 tỷ đồng vào năm 2023. Năm 2025, cả nước ghi nhận hơn 194,6 triệu lượt khám, chữa bệnh BHYT, với tổng chi phí khoảng 164.900 tỷ đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, số lượt khám, chữa bệnh BHYT đạt 94,4 triệu lượt, với chi phí khoảng 84.800 tỷ đồng. Trong khi đó, gánh nặng chi trả trực tiếp cho y tế của các hộ gia đình tại Việt Nam vẫn còn cao, chiếm khoảng 39,2% tổng chi y tế.
Những con số này cho thấy nguồn tài chính của hệ thống y tế Việt Nam đang chịu áp lực từ cả hai phía: nhu cầu chi ngày càng lớn, trong khi yêu cầu bảo vệ người dân trước rủi ro tài chính cũng ngày càng cao. Trong bối cảnh đó, đổi mới các giải pháp tài chính là yêu cầu cấp thiết để xây dựng nền tảng tài chính vững chắc, qua đó nâng cao năng lực của hệ thống y tế và bảo đảm quyền lợi của người dân, tính bền vững của quỹ BHYT.
Đổi mới giải pháp tài chính để xây dựng một nền tảng tài chính vững chắc
Một trong những giải pháp quan trọng đang được đặt ra là tăng chi từ ngân sách, tăng mức đóng BHYT theo lộ trình nhưng phải bảo đảm tương xứng giữa mức đóng và mức hưởng. Phát biểu tại phiên chuyên đề chính sách “Đổi mới đột phá tài chính y tế đáp ứng yêu cầu thực hiện BHYT toàn dân trong giai đoạn mới”, trong khuôn khổ Hội nghị Khoa học do Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức mới đây, bà Trần Thị Trang - Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế) cho rằng, việc xác định mức đóng BHYT cần được tính toán trên cơ sở tổng thể các quyền lợi người tham gia được hưởng.
“Nếu chúng ta muốn miễn viện phí toàn dân ở mức cơ bản, muốn tăng quyền lợi, các gói sàng lọc dự phòng bệnh tật, chi cho phòng bệnh và các hoạt động khác, chi hỗ trợ một phần cho khám sức khỏe định kỳ và trong lộ trình tăng giá viện phí theo tiền lương tăng…, chắc chắn sẽ phải tính tổng thể các quyền lợi BHYT, từ đó xác định mức đóng cho phù hợp và cân đối”, Vụ trưởng Vụ BHYT nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, việc khơi thông các nguồn lực tài chính mới cũng được xem là giải pháp quan trọng để đáp ứng nhu cầu mở rộng quyền lợi cho người tham gia BHYT. Một trong những hướng đi được đề xuất là huy động thêm nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm có hại cho sức khỏe như thuốc lá, rượu, bia và đồ uống có đường để tái đầu tư cho y tế. Cùng với đó là triển khai các sản phẩm BHYT bổ sung tiên phong tại Việt Nam.
Theo bà Trần Thị Trang, quỹ BHYT được thiết kế để thực hiện chức năng chia sẻ trong dài hạn, do đó không thể đặt kỳ vọng mọi chi phí chăm sóc sức khỏe đều do quỹ này chi trả. Vì thế, “bài toán” tài chính y tế vẫn phải tìm kiếm nguồn ngân sách khác nhau, trong đó ngân sách nhà nước cho những nhiệm vụ Nhà nước cần bảo đảm và các nguồn lực tài chính mới như BHYT bổ sung, hoặc trích một phần thu thuế từ các sản phẩm tiêu thụ đặc biệt để đưa vào chi cho một số nhiệm vụ đặc biệt khác.
Hiện nay, Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo nghị định tăng mức hưởng và phạm vi hưởng BHYT theo lộ trình, đối tượng ưu tiên phù hợp với mức đóng và khả năng cân đối quỹ BHYT. Theo đề xuất, mức đóng của nhiều nhóm tham gia BHYT có thể tăng từ 4,5% hiện nay lên 5,1% từ năm 2027, sau đó tiếp tục tăng lên 5,4% và 6% vào năm 2030 theo lộ trình. Điểm đáng chú ý trong dự thảo là việc tăng mức đóng được đặt cùng với lộ trình mở rộng quyền lợi BHYT. Theo đề xuất, từ năm 2027, quỹ BHYT từng bước thanh toán chi phí khám sức khỏe định kỳ cho một số nhóm đối tượng; đồng thời mở rộng thanh toán đối với hoạt động khám sàng lọc, chẩn đoán sớm một số bệnh ung thư và mạn tính phổ biến. Ngoài mở rộng phạm vi chi trả, dự thảo còn đề xuất tăng mức hưởng BHYT cho một số nhóm ưu tiên.









