Logo

Dữ liệu khoa học, công nghệ hướng tới “cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần”

Ngày 11/9, Hệ thống Thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chính thức được ra mắt, hướng tới chuẩn hóa và khai thác dữ liệu dùng chung. Théo đó, giảm việc người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học phải cung cấp lại những thông tin cơ quan quản lý đã có, qua đó chuyển từ quản lý dữ liệu sang khai thác giá trị dữ liệu.

Thứ trưởng Lê Xuân Định cùng các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. (Ảnh: MST)
Thứ trưởng Lê Xuân Định cùng các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. (Ảnh: MST)

Không chỉ là một hệ thống phần mềm

Phát biểu tại lễ ra mắt, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Lê Xuân Định nhấn mạnh, giá trị của Hệ thống Thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không nằm ở việc sở hữu một phần mềm hiện đại, mà ở chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối, mức độ khai thác và hiệu quả thực tế mang lại.

Theo Thứ trưởng, dữ liệu phải được thường xuyên cập nhật, chuẩn hóa, làm sạch và xác thực, bảo đảm các yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sâu, thống nhất, dùng chung và có khả năng chia sẻ”.

Khi dữ liệu đã được hình thành, chuẩn hóa và liên thông, cơ quan nhà nước phải khai thác được nguồn dữ liệu đó để phục vụ công việc, giảm thủ tục hành chính và hạn chế tối đa việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học cung cấp lại thông tin mà cơ quan quản lý đã có.

Đây cũng là một trong những mục tiêu cốt lõi của hệ thống: không chỉ tạo ra một nơi tập trung dữ liệu mà từng bước hình thành nền dữ liệu thống nhất, liên thông, phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đến nay, hệ thống bước đầu hội tụ dữ liệu về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ; đồng thời kết nối, chia sẻ hàng triệu dữ liệu từ các hệ thống nghiệp vụ trong các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ và các nguồn thông tin khoa học, công nghệ trong nước, quốc tế.

Nguồn dữ liệu này được kỳ vọng tạo cơ sở hình thành bức tranh ngày càng đầy đủ về tiềm lực, hoạt động và kết quả khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của đất nước. Tuy nhiên, Thứ trưởng Lê Xuân Định lưu ý, ra mắt và đưa hệ thống vào vận hành mới chỉ là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn là phải làm cho dữ liệu “sống”, được cập nhật, chia sẻ và tạo ra giá trị trong thực tiễn.

Một trong những yêu cầu đáng chú ý được lãnh đạo Bộ đặt ra là thay đổi cách quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, từ theo dõi từng nhiệm vụ riêng lẻ sang quản trị dữ liệu theo toàn bộ vòng đời. Theo đó, dữ liệu phát sinh trong quá trình nghiên cứu không chỉ được xem là thông tin phục vụ lưu trữ hồ sơ. Ngay từ khâu xác định, đặt hàng nhiệm vụ, cần xác định rõ dữ liệu được tạo ra cũng là một sản phẩm có giá trị.

Bên cạnh những kết quả quen thuộc như công bố khoa học, đăng ký sáng chế, tạo ra công nghệ mới, hồ sơ nhiệm vụ cần có yêu cầu về giao nộp, chuẩn hóa, lưu trữ, cập nhật và khả năng kết nối, chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu.

Thứ trưởng Lê Xuân Định yêu cầu các đơn vị của Bộ, trong đó có Cục Thông tin, Thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các cục chuyên ngành và đơn vị liên quan rà soát, cập nhật quy trình xác định, đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo hướng này.

Một nhiệm vụ sau khi kết thúc không có nghĩa là dữ liệu tạo ra từ nhiệm vụ đó cũng kết thúc vòng đời. Nếu được chuẩn hóa và tiếp tục cập nhật, dữ liệu có thể phục vụ nghiên cứu tiếp theo, hỗ trợ hoạch định chính sách hoặc được khai phá để tạo ra những giá trị mới.

Thứ trưởng đề nghị Cục Thông tin phối hợp với các cục chuyên ngành và Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) xây dựng cơ chế, hệ thống để tập hợp đầy đủ dữ liệu từ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, từng bước thể chế hóa nội dung này trong các quy định liên quan.

Đây là hướng đi nhằm tối ưu hóa nguồn lực Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu, bởi một kết quả khoa học không chỉ tạo ra giá trị tại thời điểm nghiệm thu mà còn có thể tiếp tục được khai thác trong nhiều hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới sáng tạo khác.

“Cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần”

Từ góc độ quản lý nhiệm vụ, Giám đốc Quỹ NAFOSTED Đào Ngọc Chiến cho rằng dữ liệu cần được hình thành và quản lý xuyên suốt từ khi một nhiệm vụ được đề xuất cho đến khi kết quả được sử dụng và tạo ra tác động. Dữ liệu cần được ghi nhận từ các khâu đề xuất, tuyển chọn, phê duyệt, triển khai, đánh giá, nghiệm thu đến theo dõi việc sử dụng và tác động của kết quả nghiên cứu. Khi có dữ liệu đầy đủ về toàn bộ vòng đời nhiệm vụ, cơ quan quản lý sẽ có thêm căn cứ để xác định ưu tiên, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ.

Ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ NAFOSTED phát biểu tại buổi Lễ. (Ảnh: MST)

Theo ông Đào Ngọc Chiến, NAFOSTED sẽ phối hợp kết nối hệ thống quản lý trực tuyến nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và Hệ thống Thông tin quốc gia. Mục tiêu là tránh hình thành những hệ thống riêng lẻ, tạo ra các “ốc đảo dữ liệu”, thay vào đó hướng tới một hệ sinh thái có khả năng kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu.

Nguyên tắc được đặt ra là “cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần”. Dữ liệu chỉ cần được cung cấp, xác thực một lần nhưng có thể phục vụ nhiều quy trình, nhiều cơ quan và nhiều mục đích khác nhau.

Cách làm này không chỉ nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu mà còn góp phần giảm gánh nặng hành chính cho các nhà khoa học và tổ chức chủ trì nhiệm vụ. Nhà khoa học có thể dành nhiều thời gian hơn cho nghiên cứu, thay vì liên tục kê khai hoặc cung cấp lại những thông tin mà cơ quan quản lý đã có.

Cục Thông tin, Thống kê sẽ tiếp tục làm sạch, chuẩn hóa khối dữ liệu lớn được chuyển từ các hệ thống đã vận hành nhiều năm. Cùng với đó, các tổ chức khoa học và công nghệ, nhà khoa học và các bên liên quan sẽ tiếp tục tham gia cập nhật, hoàn thiện dữ liệu.

Theo Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê Trần Đắc Hiến, dữ liệu và thông tin khoa học, công nghệ ngày càng trở thành hạ tầng thiết yếu cho quản lý, nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.Tuy nhiên, dữ liệu chỉ thực sự có giá trị khi được kết nối, chuẩn hóa, chia sẻ, phân tích và chuyển hóa thành tri thức.

Ông Trần Đắc Hiến, Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê phát biểu tại buổi Lễ. (Ảnh: MST)

Với cơ quan quản lý, hệ thống cung cấp cơ sở dữ liệu để hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Với nhà khoa học, đây là nguồn thông tin về tổ chức, chuyên gia, nhiệm vụ và kết quả nghiên cứu. Với doanh nghiệp, hệ thống có thể trở thành kênh tìm kiếm công nghệ, chuyên gia và những kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng. Định hướng quan trọng tiếp theo là chuyển từ lưu trữ và tra cứu sang khai thác giá trị dữ liệu.

Hệ thống cần được phát triển các công cụ phân tích, thống kê, trực quan hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phục vụ chỉ đạo, điều hành; đánh giá tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nhận diện xu hướng và hỗ trợ hoạch định chính sách.

Đặc biệt, hệ thống được kỳ vọng hỗ trợ quản lý hoạt động khoa học, công nghệ theo chuỗi từ đầu vào (input), đầu ra (output), kết quả (outcome) đến tác động (impact). Nếu trước đây trọng tâm quản lý thường nằm ở câu hỏi Nhà nước đã đầu tư bao nhiêu, thực hiện bao nhiêu nhiệm vụ, tạo ra bao nhiêu sản phẩm, thì dữ liệu được kết nối sẽ giúp trả lời câu hỏi quan trọng hơn: những kết quả đó tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế, xã hội và sự phát triển đất nước. Đây là bước chuyển từ quản lý dựa chủ yếu trên nhiệm vụ, sản phẩm sang quản lý dựa trên kết quả và tác động.

Mở đường từ nghiên cứu đến thị trường

Từ thực tiễn ứng dụng công nghệ, đại diện lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho rằng khả năng tiếp cận thông tin có ý nghĩa lớn đối với cơ hội phát triển của cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức.

Khi dữ liệu được số hóa và kết nối, phương thức làm việc thay đổi. Với hệ thống mới, cơ quan quản lý có thêm căn cứ hoạch định chính sách; nhà khoa học có thể tìm kiếm công trình, chuyên gia, tổ chức và nguồn lực; doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận công nghệ và kết quả nghiên cứu phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Đặc biệt, hệ thống có thể góp phần rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng. Khi doanh nghiệp biết một công nghệ đang được nghiên cứu ở đâu, do ai phát triển, kết quả đến mức nào và có thể kết nối với nhà khoa học ra sao, cơ hội đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất sẽ được mở rộng.

Đại diện cộng đồng khoa học cũng cho rằng việc ra mắt hệ thống là bước đầu hình thành hạ tầng cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nếu tiếp tục mở rộng kết nối các tạp chí khoa học, công trình nghiên cứu, chuyên gia, tổ chức và kết quả nghiên cứu, hệ thống có thể trở thành công cụ phân tích năng lực nghiên cứu, nhận diện xu hướng và hỗ trợ hoạch định chính sách.

Nhưng để đạt được mục tiêu đó, hệ thống phải thực sự “sống”: có dữ liệu được cập nhật thường xuyên, có cơ quan, tổ chức, nhà khoa học và doanh nghiệp tham gia, có người sử dụng và có dữ liệu được đóng góp trở lại.

Ngay sau lễ ra mắt, Thứ trưởng Lê Xuân Định đề nghị Cục Thông tin, Thống kê chuẩn bị công văn gửi các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức khoa học, công nghệ để giới thiệu hệ thống; đề nghị các cơ quan, tổ chức tham gia cung cấp, cập nhật thông tin theo chức năng, nhiệm vụ, đồng thời chủ động khai thác dữ liệu trên hệ thống.

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đề nghị các cơ quan báo chí, đơn vị truyền thông cùng tham gia lan tỏa, hướng dẫn nhà khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp và người dân tiếp cận, khai thác hệ thống.

Hệ thống Thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ không chỉ là một sản phẩm chuyển đổi số, mà từng bước trở thành hạ tầng dữ liệu dùng chung của ngành, nơi dữ liệu được kết nối, tri thức được chia sẻ và kết quả nghiên cứu có thêm cơ hội đi vào cuộc sống. Đích đến không phải là có thêm một hệ thống thông tin, mà là hình thành một phương thức quản trị mới: dữ liệu làm nền tảng cho quyết định, tri thức thúc đẩy đổi mới và kết quả khoa học, công nghệ được chuyển hóa thành giá trị cho đất nước.