Định danh tác quyền sáng tạo trước làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI)
Tại hội thảo của Báo Nhân Dân ngày 27/8, câu hỏi thời sự nhất của giới sáng tạo được đặt lên bàn nghị sự: khi trí tuệ nhân tạo học từ mọi thứ, quyền của người sáng tạo Việt thực thi bằng cách nào.
Sáng 27/8, tại trụ sở 71 Hàng Trống, Hà Nội, Báo Nhân Dân tổ chức hội thảo "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số - Khơi thông điểm nghẽn, phát triển văn hóa số", quy tụ đại diện cơ quan quản lý nhà nước, đại biểu Quốc hội, chuyên gia pháp lý và doanh nghiệp công nghệ. Khác nhiều diễn đàn bản quyền trước đây, phần được chờ đợi nhất lần này nằm ở một chủ đề rất mới: trí tuệ nhân tạo đang học từ kho sáng tạo Việt, và hành lang pháp lý phải trả lời ra sao. Cùng với kiến nghị khẩn trương hiện thực hóa Nghị định 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số, đây là hai mạch xuyên suốt buổi làm việc.

Kho sáng tạo Việt trước cơn khát dữ liệu
Sức hấp dẫn của kho sáng tạo Việt nằm ngay trong các con số: năm 2025, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) thu hơn 424,3 tỷ đồng tiền sử dụng tác quyền, riêng website và ứng dụng số gần 298 tỷ đồng; chiến lược quốc gia đặt mục tiêu ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030. Nhưng chính kho tài sản đang lớn nhanh ấy lại đối mặt một cơn khát mới.
Tiến sĩ Hoàng Minh Hiếu, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, phân tích: để học được mẫu, cấu trúc, phong cách, một hệ thống trí tuệ nhân tạo cần khối dữ liệu đầu vào khổng lồ, và quá trình thu thập tự động từ Internet thực chất bao hàm hành vi sao chép quy mô lớn. "Các doanh nghiệp công nghệ khai thác miễn phí tài sản trí tuệ của con người để xây dựng hệ thống, sau đó bán dịch vụ và tạo ra sản phẩm cạnh tranh trực tiếp, làm suy giảm chính thị trường của tác giả gốc", ông cảnh báo. Đáng lo hơn, theo ông, ngay cả khi luật đã trao cho tác giả quyền bảo lưu, chủ thể quyền vẫn không thể biết tác phẩm của mình có bị đem đi huấn luyện hay không nếu nhà phát triển không công bố thông tin; thiếu cơ chế minh bạch dữ liệu huấn luyện thì cả quyền bảo lưu lẫn nghĩa vụ trả tiền bản quyền đều "không thể thực thi".
Câu chuyện AI, nhìn kỹ, lại quay về đúng câu hỏi cũ nhất của thị trường bản quyền: tác phẩm thuộc về ai. Ông Quản Tuấn An, Trưởng phòng Quản lý và hợp tác quốc tế, Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), chỉ ra rằng muốn truy được AI đã học từ tác phẩm nào, trước hết thị trường phải trả lời được ai đang nắm quyền gì, ai được ủy quyền quản lý và cấp phép; thông tin càng phân tán, chi phí xác minh càng lớn và niềm tin càng mỏng. "Chủ thể quyền chỉ ủy quyền khi họ tin rằng tổ chức sẽ quản lý quyền hiệu quả và phân phối tiền bản quyền công bằng", ông nhấn mạnh. Định hướng của Cục vì thế xoay quanh dữ liệu: quản trị dữ liệu thành nghĩa vụ pháp lý cốt lõi của các tổ chức quản lý tập thể, mã định danh và chuẩn dữ liệu thống nhất, liên thông cơ sở dữ liệu nhà nước, tương thích chuẩn quốc tế.
Định danh trước, mọi ranh giới vẽ sau
Ranh giới pháp lý quanh AI, trong vận hành thực tế, mờ hơn nhiều so với hình dung. Ông Trần Văn Trí, Giám đốc Công ty cổ phần Truyền thông Luật Việt Nam, đơn vị đang phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật, lưu ý một nhầm lẫn phổ biến: dữ liệu mở trên Internet không đồng nghĩa dữ liệu tự do. "Rủi ro phát sinh khi doanh nghiệp chỉ kiểm tra khả năng truy cập mà không kiểm tra quyền sao chép, lưu trữ, huấn luyện, tinh chỉnh và khai thác thương mại", ông nói. Ranh giới quyền vì vậy phải được xét xuyên suốt vòng đời hệ thống, từ dữ liệu đầu vào, quá trình huấn luyện đến kết quả đầu ra, nhất là khi Nghị định 134/2026/NĐ-CP đã bổ sung Điều 5a về điều kiện phát sinh quyền đối với sáng tạo có sử dụng trí tuệ nhân tạo.

Nhưng mọi ranh giới ấy chỉ vẽ được trên một nền: tác phẩm phải được định danh trước đã. Đó là điểm ông Bùi Minh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị, nhà sáng lập Công ty cổ phần Công nghệ DipNET, chọn làm trọng tâm phần trình bày. Giải pháp ông giới thiệu đi theo chuỗi khép kín: định danh số cho tác phẩm bằng công nghệ chuỗi khối, gắn quyền với danh tính chủ thể từ khi công bố; tự động rà quét trên kho dữ liệu các nền tảng số; xử lý trực tiếp với nền tảng trên nền hồ sơ đã công bố. Trong cơn bão AI, ông cho rằng định danh không thể dừng ở tác phẩm, mà phải phủ từ gương mặt, giọng nói cho đến từng lớp quyền khác nhau trên cùng một sáng tạo.
"Chính sản phẩm của người với người, chúng ta còn tranh chấp triền miên vì thiếu định danh, thì lấy nền tảng nào để phân biệt các sản phẩm phái sinh bằng AI? Do vậy, quyền nói không với AI, bắt đầu từ nỗ lực định danh tác quyền trên không gian số".
Phiên tọa đàm khép lại với các kiến nghị nối liền hai mạch thảo luận: hiện thực hóa Nghị định 277 để có hệ thống bảo vệ bản quyền liên thông quốc gia cùng sàn giao dịch bản quyền số minh bạch; hoàn thiện khung pháp luật về trí tuệ nhân tạo theo hướng cấm thu thập dữ liệu huấn luyện trái phép và minh bạch nội dung do AI tạo ra.
Và như tinh thần chung của hội thảo, luật với công cụ mới là một nửa. Nửa còn lại là hành vi của từng bên: cơ quan quản lý dựng chuẩn khai báo dữ liệu huấn luyện, công ty công nghệ minh bạch nguồn học của mô hình, cộng đồng tác giả chủ động định danh cả tác phẩm lẫn hình ảnh, giọng nói của mình, doanh nghiệp trả tiền đúng người, còn khán thính giả chọn nội dung có bản quyền. Với tinh thần thể chế đi trước một bước của Nghị quyết 57-NQ/TW được Tiến sĩ Phan Văn Hùng, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, nhấn mạnh trong đề dẫn, kho sáng tạo Việt đang được trao thứ nó cần nhất trước cơn bão AI: một danh tính số cho từng tác phẩm.









