Logo

VN-Index: FTSE tạo cú hích, nhưng dòng tiền chưa thực sự bùng nổ

Hà Châu

Độ rộng thị trường cũng nghiêng mạnh về bên mua, với 233 mã tăng và 137 mã giảm trên VN-Index; riêng rổ VN30 có tới 28 mã tăng, chỉ 2 mã giảm. Tuy nhiên, đà tăng của chỉ số chưa đi cùng sự cải thiện tương ứng về thanh khoản.

Thị trường chứng khoán Việt Nam khép lại tuần giao dịch với diễn biến tích cực, trong đó phiên thứ Sáu ghi nhận VN-Index tăng 1,9% nhờ thông tin liên quan đến danh mục cổ phiếu Việt Nam trong bộ chỉ số FTSE. Độ rộng thị trường cũng nghiêng mạnh về bên mua, với 233 mã tăng và 137 mã giảm trên VN-Index; riêng rổ VN30 có tới 28 mã tăng, chỉ 2 mã giảm.

Tuy nhiên, đà tăng của chỉ số chưa đi cùng sự cải thiện tương ứng về thanh khoản. Giá trị giao dịch bình quân tuần giảm 12% so với tuần trước, xuống khoảng 624 triệu USD, cho thấy dòng tiền vẫn chưa thực sự mở rộng trên diện rộng.

FTSE: Danh mục mang tính kỹ thuật, không phản ánh hoàn toàn chất lượng doanh nghiệp

Việc FTSE lựa chọn cổ phiếu Việt Nam vào các bộ chỉ số được thực hiện theo cơ chế định lượng dựa trên vốn hóa, tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng, room ngoại và thanh khoản. Do đó, danh mục được lựa chọn chủ yếu phản ánh các tiêu chí kỹ thuật thay vì đánh giá trực tiếp về yếu tố cơ bản của doanh nghiệp.

Điều này lý giải việc một số cổ phiếu thường được khối ngoại quan tâm như MWG, REE hay PNJ không xuất hiện trong danh sách.

Ảnh: Yuanta Việt Nam

Xét về cơ cấu, nhóm cổ phiếu Vingroup tiếp tục giữ vị trí đáng kể, với khả năng 4 mã thuộc hệ sinh thái này chiếm khoảng một phần ba chỉ số. Nhóm ngân hàng cũng hiện diện tương đối sát với cơ cấu thị trường khi VPB và HDB cùng được lựa chọn.

Ở chiều ngược lại, nhóm công nghiệp chưa được phản ánh tương xứng so với VN-Index. HPG và GEX được lựa chọn, trong khi DGC, GEE và KBC không có mặt. Đáng chú ý, nhóm chứng khoán chiếm số lượng lớn nhất với 7/27 cổ phiếu, dù tỷ trọng thực tế của nhóm này trong chỉ số có thể khác biệt đáng kể.

Ngân hàng: NIM cải thiện nhưng rủi ro chất lượng tài sản tăng

Ngành ngân hàng tiếp tục ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong quý II/2026. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông ngân hàng toàn ngành tăng 25% so với cùng kỳ, với 18/27 ngân hàng trong danh mục theo dõi ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng.

NIM toàn ngành tăng 16 điểm cơ bản so với quý trước, sớm hơn dự kiến nhờ tín dụng trung và dài hạn gia tăng. Tuy nhiên, chất lượng tài sản đang xuất hiện những dấu hiệu cần theo dõi. Tỷ lệ nợ xấu nhóm 2 tăng 14 điểm cơ bản lên 1,38%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống 79%, mức thấp nhất trong 8 năm.

Trong nhóm ngân hàng, ACB và VCB được đánh giá cao, trong khi HDB và VPB tiếp tục được khuyến nghị mua và đều nằm trong danh mục FTSE Emerging Markets, cùng với MBB và TCB.

Hạ lãi suất: Áp lực lên NIM nhưng hỗ trợ mặt bằng định giá

Sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước ngày 13/8, nhiều ngân hàng đồng loạt điều chỉnh giảm lãi suất huy động và cho vay. VPBank giảm lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 - 13 tháng từ 8,4% xuống 6% và kỳ hạn 15 - 24 tháng từ 7,8% xuống 5,8%. VCB Neo cũng giảm lãi suất trực tuyến 50 - 80 điểm cơ bản, trong khi LPBank giảm 10 - 50 điểm cơ bản.

Ở phía cho vay, nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước triển khai các gói tín dụng ưu đãi quy mô lớn. Agribank dành khoảng 70.000 tỷ đồng, trong khi Vietcombank, VietinBank và BIDV mỗi ngân hàng dành 50.000 tỷ đồng cho các lĩnh vực như SME, nông nghiệp, xuất khẩu và công nghệ cao.

Ảnh: Yuanta Việt Nam

Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng tham gia xu hướng này. Sacombank giảm 2 điểm phần trăm đối với toàn bộ dư nợ xuất nhập khẩu khoảng 100.000 tỷ đồng; Nam A Bank, MSB, BVBank và LPBank triển khai các chương trình tín dụng cho SME với lãi suất thấp hơn khoảng 1 điểm phần trăm so với mặt bằng chung.

Việc hạ lãi suất cho vay có thể tạo áp lực lên NIM trong nửa cuối năm. Tuy nhiên, lãi suất huy động giảm, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quốc doanh, có thể góp phần kéo giảm mặt bằng lãi suất phi rủi ro và chi phí vốn chủ sở hữu, qua đó hỗ trợ định giá cổ phiếu trên toàn thị trường.

Lợi nhuận tăng mạnh nhưng chưa chuyển hóa thành đà tăng của chỉ số

Một nghịch lý đáng chú ý là lợi nhuận doanh nghiệp toàn thị trường quý II/2026 tăng khoảng 46% so với cùng kỳ, trong khi VN-Index vẫn giảm khoảng 3% từ đầu năm.

Tăng trưởng lợi nhuận mạnh tập trung chủ yếu ở những ngành có tỷ trọng đóng góp thấp như dầu khí và viễn thông. Trong khi đó, những nhóm ngành có vai trò lớn đối với chỉ số lại chưa phản ánh đầy đủ sự cải thiện về kết quả kinh doanh.

Ngành ngân hàng là trường hợp điển hình. Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận tăng từ 14% trong quý I lên 25% trong quý II, nhưng giá cổ phiếu chỉ tăng khoảng 1,2%. Tương tự, nhóm công nghệ giảm 26% từ đầu năm dù kết quả kinh doanh tiếp tục cải thiện.