Tổng điều tra kinh tế năm 2026: Quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng
Kết quả cuộc tổng điều tra kinh tế (TĐTKT) năm 2026 cho thấy quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng, số lượng các đơn vị kinh tế tăng so với kỳ tổng điều tra trước, phản ánh xu hướng phát triển của khu vực doanh nghiệp (DN) và sự chuyển dịch cơ cấu giữa các khu vực kinh tế…
Cuộc tổng điều tra quy mô lớn nhất từ trước đến nay
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, TĐTKT năm 2026 là cuộc tổng điều tra có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, huy động khối lượng nguồn lực rất lớn và được triển khai trong bối cảnh đặc biệt, khi đất nước bắt đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cùng các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng cao và phát triển bền vững. Kết quả TĐTKT năm 2026 có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần giúp Đảng và Nhà nước xây dựng các chiến lược phát triển dài hạn, hiện thực hóa hai mục tiêu phát triển đất nước: Đến năm 2030 trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.

Bộ trưởng Bộ Tài chính đánh giá, cuộc tổng điều tra vừa hoàn thành vượt tiến độ, vừa bảo đảm chất lượng, phản ánh quyết tâm chính trị cao, sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Cuộc TĐTKT năm 2026 không chỉ là hoạt động kiểm kê, thống kê các nguồn lực của nền kinh tế, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số của ngành Thống kê, tạo nền tảng hình thành phương thức thống kê hiện đại, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển kinh tế số.
“Muốn hoạch định đúng chủ trương, chính sách, trước hết phải đánh giá đầy đủ, chính xác nguồn lực của nền kinh tế. Chỉ khi nắm chắc quy mô, cơ cấu và khả năng huy động các nguồn lực thì mới có thể xây dựng các chiến lược phát triển phù hợp, sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia và tạo dư địa cho tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo” – Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định.

Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương (Bộ Tài chính) cho biết thêm, công tác tổ chức được triển khai đồng bộ từ Trung ương tới địa phương với 34 Ban chỉ đạo cấp tỉnh và 3.319 Ban chỉ đạo cấp xã. Công tác thu thập dữ liệu được thực hiện từ ngày 5/1 đến ngày 30/4/2026 với hơn 6 triệu đơn vị điều tra. Trong đó, giai đoạn 1 tập trung vào hơn 5,25 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, hơn 52.000 cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và gần 8.000 tổ hợp tác. Giai đoạn 2 điều tra hơn 1,22 triệu DN, hợp tác xã cùng các hội, hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và chi nhánh, văn phòng đại diện DN nước ngoài.
Khu vực DN tiếp tục là động lực tăng trưởng
Kết quả sơ bộ cho thấy quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng, số lượng các đơn vị kinh tế tăng so với kỳ tổng điều tra trước, phản ánh xu hướng phát triển của khu vực DN và sự chuyển dịch cơ cấu giữa các khu vực kinh tế. Tuy nhiên, mức tăng giữa các khu vực không đồng đều, trong khi khu vực DN tiếp tục mở rộng cả về số lượng và lao động thì khu vực kinh tế cá thể có dấu hiệu tăng chậm, lao động giảm, phản ánh quá trình tái cơ cấu của nền kinh tế.
Theo kết quả TĐTKT năm 2026, cả nước có gần 6,3 triệu cơ sở kinh tế đang hoạt động, bao gồm gần 876,2 nghìn DN, hợp tác xã; Gần 5,3 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể; 52,2 nghìn cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; Gần 8 nghìn tổ hợp tác và 82,5 nghìn cơ sở hành chính, sự nghiệp, hiệp hội và tổ chức phi Chính phủ. Đây là cuộc tổng điều tra có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, đồng thời mở rộng phạm vi thu thập thông tin đối với một số đối tượng điều tra, góp phần phản ánh đầy đủ hơn bức tranh kinh tế - xã hội của đất nước.
Cụ thể, ông Nguyễn Thanh Dương – Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho hay, kết quả sơ bộ cho thấy khu vực DN tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Mặc dù môi trường kinh doanh còn nhiều khó khăn, số lượng DN hoạt động vẫn duy trì xu hướng tăng, phản ánh khả năng thích ứng và phục hồi của khu vực DN. Đặc biệt, khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục mở rộng, khẳng định sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam. Tính đến ngày 31/12/2025, trong 1.220.678 DN được thu thập thông tin trên cả nước có 859.048 DN đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh, tăng 2,4% so với năm 2024 và tăng 25,5% so với năm 2020, trong đó DN FDI tăng 33,9% so với năm 2020.
Sự phát triển của DN kéo theo sự gia tăng về quy mô lao động. Tổng số lao động làm việc trong khu vực DN năm 2025 đạt gần 17,6 triệu người, tăng 7,5% so với năm 2024 và tăng 19,7% so với năm 2020. Tốc độ tăng lao động cao hơn tốc độ tăng số DN cho thấy xu hướng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và gia tăng năng lực tạo việc làm của khu vực DN. Trong đó, khu vực ngoài Nhà nước và FDI tiếp tục là những khu vực tạo việc làm lớn nhất cho nền kinh tế.
Các đơn vị điều tra và lao động tiếp tục tập trung chủ yếu tại hai vùng kinh tế trọng điểm là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, phản ánh vai trò đầu tàu tăng trưởng của hai vùng kinh tế này. Vùng Đồng bằng sông Hồng có số lượng đơn vị điều tra nhiều nhất với trên 1,6 triệu đơn vị, chiếm 25,6%; Đứng thứ hai là vùng Đông Nam Bộ với 1,4 triệu đơn vị, chiếm 22,4%; Đứng thứ ba là vùng Đồng bằng sông Cửu Long với gần 1,03 triệu đơn vị, chiếm 16,4%; Tiếp theo là vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với 1,0 triệu đơn vị, chiếm 16,1%; Vùng Bắc Trung Bộ có 674,9 nghìn đơn vị, chiếm 10,7%; Vùng Trung du và miền núi phía Bắc chiếm tỷ trọng nhỏ nhất với 552,3 nghìn đơn vị, chiếm 8,8% trong tổng số đơn vị điều tra của cả nước và 194 đơn vị không phân vùng, chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Lao động tập trung nhiều nhất tại vùng Đồng bằng sông Hồng với 9,6 triệu lao động, chiếm 31,7% tổng số lao động trong các đơn vị điều tra; Thu hút lao động nhiều thứ hai thuộc về vùng Đông Nam Bộ với gần 8,8 triệu lao động, chiếm 28,9%; Bắc Trung Bộ là vùng có số lao động ít nhất với gần 2,4 triệu lao động, chiếm 7,8%; Số lao động trong các đơn vị không phân vùng chiếm 1,5% trong tổng số lao động cả nước.
Trong tổng số 859 nghìn DN thì vùng Đông Nam Bộ thu hút tới gần 349,7 nghìn DN, chiếm 40,7%; Vùng Đồng bằng sông Hồng đứng thứ hai với 267,2 nghìn DN, chiếm 31,1%; Tiếp theo là vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với 92 nghìn doanh nghiệp, chiếm 10,7%; Thấp nhất là vùng Trung du và Miền núi phía Bắc với 41,9 nghìn DN và chỉ chiếm 4,9% số lượng DN cả nước.









