Thị trường trái phiếu doanh nghiệp chững lại, áp lực đáo hạn 2027 lên 276.000 tỷ đồng
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp giảm tốc trong quý III/2026 khi tổng giá trị phát hành đạt 179.400 tỷ đồng, giảm 26% so với quý trước. Trong khi đó, chi phí vốn tiếp tục tăng và áp lực đáo hạn được dự báo gia tăng mạnh trong năm 2027.
Phát hành trái phiếu giảm tốc trong quý III
Theo S&I Ratings, thị trường trái phiếu doanh nghiệp ghi nhận 153 đợt phát hành thành công trong quý III/2026, với tổng giá trị 179.400 tỷ đồng, giảm 26% so với quý II. Diễn biến này tương đồng với năm 2025 khi hoạt động phát hành thường sôi động trong quý II sau giai đoạn trầm lắng đầu năm, trước khi điều chỉnh trở lại trong quý III theo chu kỳ thị trường.
Dù giảm mạnh so với quý trước, quy mô phát hành trong quý III vẫn tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng đầu năm, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành đạt 464.100 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ. Trong cùng kỳ, giá trị trái phiếu đáo hạn và mua lại trước hạn lần lượt đạt 132.800 tỷ đồng, tăng 5,7%, và 228.600 tỷ đồng, giảm 4,5%. Giá trị phát hành ròng đạt 102.600 tỷ đồng.
Qua đó, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành tăng 7,1% so với cuối năm 2025, lên khoảng 1,54 triệu tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng này thấp hơn đáng kể so với mức tăng GDP 9% và tăng trưởng tín dụng 11,59% trong 9 tháng đầu năm 2026. Theo S&I Ratings, nhu cầu tín dụng cao đã đẩy mặt bằng lãi suất tăng, qua đó tác động trực tiếp đến chi phí vốn của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc Nghị định 200/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5/6/2026 cũng khiến các doanh nghiệp phải chuẩn bị cho những yêu cầu tuân thủ chặt chẽ hơn.
Phát hành ra công chúng lập kỷ lục
Trong khi thị trường chung giảm tốc, kênh phát hành trái phiếu ra công chúng lại ghi nhận diễn biến tích cực. Quý III có 16 đợt phát hành trái phiếu ra công chúng thành công, với tổng giá trị 31.600 tỷ đồng, tăng 55% so với cùng kỳ và là mức cao nhất từng ghi nhận.
Các ngân hàng thương mại tiếp tục chiếm ưu thế với 8/16 đợt phát hành. Quy mô mỗi đợt phổ biến từ 1.000-3.000 tỷ đồng, trong đó riêng Agribank phát hành thành công 15.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, các tổ chức phi ngân hàng cũng tham gia tích cực hơn vào kênh phát hành công chúng. Trong quý III, các công ty chứng khoán như ACBS, TCBS cùng các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, tiêu dùng và sản xuất như F88, Masan MeatLife, Thuận Đức đều thực hiện phát hành. Tuy nhiên, quy mô phần lớn dưới 1.000 tỷ đồng.
Trái phiếu bất động sản hạ nhiệt sau quý II đột biến
Nhóm bất động sản ghi nhận sự điều chỉnh mạnh trong quý III sau khi tăng tốc trong quý trước. Số đợt phát hành thành công của nhóm này giảm từ 43 đợt trong quý II xuống còn 21 đợt trong quý III, trong khi giá trị phát hành giảm 55%. Dù giảm mạnh so với quý II, giá trị trái phiếu bất động sản phát hành trong quý III vẫn tăng 27% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng, nhóm này tăng tới 121% so với cùng kỳ.
Theo S&I Ratings, một mặt, thị trường bất động sản chịu tác động từ mặt bằng lãi suất cao, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án và chi phí vốn. Mặt khác, nhu cầu vốn lớn cho các dự án tiếp tục là động lực thúc đẩy doanh nghiệp bất động sản sử dụng kênh trái phiếu trong thời gian tới.
Trái phiếu ngân hàng chưa phục hồi mạnh
Trong quý III, tổng giá trị trái phiếu ngân hàng phát hành đạt 120.000 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước và tăng 7% so với quý II. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng đầu năm, giá trị phát hành của nhóm ngân hàng vẫn thấp hơn 20% so với cùng kỳ năm 2025.
Một yếu tố đáng chú ý là cách tính tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR) theo Thông tư 50. Theo đó, chỉ trái phiếu đáp ứng điều kiện được tính vào vốn cấp 2 mới được tính vào mẫu số của LDR, qua đó phần nào làm giảm động lực phát hành trái phiếu của các ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh trái phiếu ngân hàng chiếm khoảng 2/3 tổng lượng phát hành trên thị trường, sự suy giảm của nhóm này cũng là một trong những nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng chung của thị trường trái phiếu doanh nghiệp chậm lại.
Lãi suất phát hành tiến sát vùng đỉnh
Áp lực chi phí vốn tiếp tục gia tăng khi lãi suất phát hành trái phiếu trong quý III tăng ở tất cả các nhóm ngành. So với mức đáy năm 2025, lãi suất coupon đã tăng bình quân khoảng 250 điểm cơ bản. Tuy nhiên, tốc độ tăng đã chậm lại trong quý III khi mặt bằng lãi suất dần tiến tới vùng đỉnh của giai đoạn 2022-2023.
Đối với nhóm ngân hàng, lãi suất phát hành bình quân trong quý III đạt 8,85%/năm, vượt mức bình quân 8,7%/năm của năm 2022. Trong giai đoạn này, mức lãi suất cao nhất từng ghi nhận là 9,7%/năm.
Trong quý III/2026, lãi suất coupon trái phiếu ngân hàng phổ biến trong khoảng 8 - 9,7%/năm. Một số lô có mức lãi suất trên 10%/năm, như trái phiếu của Sacombank với lãi suất cố định 10%/năm và PVcomBank với mức lãi suất bình quân bằng lãi suất tiết kiệm cá nhân kỳ hạn 12 tháng cộng 4,6%/năm, tương đương khoảng 10,4%/năm.
Ở nhóm bất động sản và các doanh nghiệp khác, lãi suất phát hành đã tăng lên khoảng 12,5-13%/năm. Tuy nhiên, mức này vẫn thấp hơn vùng đỉnh 14-14,5%/năm của giai đoạn 2022-2023.
Áp lực đáo hạn tăng mạnh từ quý IV
Bước sang quý IV/2026, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đối mặt với áp lực đáo hạn lớn hơn khi tổng giá trị trái phiếu đến hạn thanh toán ước khoảng 93.000 tỷ đồng, cao nhất trong năm. Trong đó, nhóm bất động sản chịu áp lực lớn nhất với khoảng 46.900 tỷ đồng trái phiếu đáo hạn, tương đương gần một nửa tổng giá trị đáo hạn của toàn thị trường.
Áp lực này được dự báo tiếp tục gia tăng trong năm 2027. Theo S&I Ratings, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn trong năm 2027 có thể đạt khoảng 276.000 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2026. Riêng nhóm bất động sản chiếm khoảng 156.000 tỷ đồng, tương đương 57% tổng giá trị trái phiếu đáo hạn toàn thị trường. Trong bối cảnh đó, hoạt động phát hành mới không chỉ phục vụ nhu cầu vốn cho các dự án mà còn có vai trò quan trọng trong việc cơ cấu lại các khoản nợ hiện hữu.
Chi phí vốn cao là thách thức lớn trong năm 2027
Nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế được dự báo bước vào chu kỳ tăng mạnh khi nhiều dự án quy mô lớn trong lĩnh vực bất động sản, đô thị, hạ tầng giao thông, năng lượng và công nghiệp được triển khai. Điều này tiếp tục tạo dư địa cho trái phiếu doanh nghiệp trở thành một kênh huy động vốn quan trọng. Tuy nhiên, khả năng hấp thụ vốn của thị trường sẽ phụ thuộc đáng kể vào diễn biến lãi suất trong nước và quốc tế.
S&I Ratings cho rằng rủi ro lạm phát cùng xu hướng lợi suất trái phiếu Chính phủ quốc tế duy trì ở mức cao có thể khiến mặt bằng lãi suất tiếp tục neo cao ít nhất trong nửa đầu năm 2027. Đối với doanh nghiệp phát hành, mặt bằng lãi suất cao đồng nghĩa chi phí vốn gia tăng, đặc biệt với những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính lớn hoặc nhu cầu huy động vốn cao.
Dù vậy, triển vọng trung hạn của thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn được đánh giá tích cực nhờ nhu cầu huy động vốn lớn của khu vực doanh nghiệp và áp lực tái cấp vốn ngày càng tăng. Thị trường được kỳ vọng tiếp tục quá trình tái cấu trúc theo hướng bền vững, mở rộng cơ sở nhà đầu tư và nâng cao vai trò là kênh dẫn vốn trung, dài hạn của nền kinh tế.
Hướng tới thị trường vốn quốc tế
Bên cạnh thị trường trong nước, Chính phủ đang xem xét khả năng phát hành trái phiếu quốc tế trở lại và thúc đẩy lộ trình nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư (Investment Grade), qua đó cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế.
Theo chuẩn mực Basel về an toàn vốn ngân hàng, việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư có thể giúp hệ số rủi ro áp dụng đối với trái phiếu Chính phủ Việt Nam giảm từ 100% xuống 50%, mang lại lợi ích cho các ngân hàng nước ngoài nắm giữ trái phiếu Việt Nam.
Ở cấp độ tổ chức, SHB mới đây đã phát hành thành công 229 triệu SGD trái phiếu quốc tế, gồm 129 triệu SGD kỳ hạn 3 năm với lãi suất 2,9%/năm và 100 triệu SGD kỳ hạn 5 năm với lãi suất 3,15%/năm. Khoản phát hành được Ngân hàng SMBC thực hiện phòng ngừa rủi ro tỷ giá thông qua hợp đồng hoán đổi sang USD.
Trái phiếu SGD của SHB được S&P Global Ratings xếp hạng AA nhờ có bảo lãnh của Credit Guarantee and Investment Facility (CGIF), quỹ tín thác thuộc ADB. Trong khi đó, Vietcombank cũng có kế hoạch phát hành trái phiếu quốc tế nhằm bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn.
Xu hướng này cho thấy nỗ lực đa dạng hóa nguồn vốn trong bối cảnh dư địa mở rộng tín dụng trong nước có giới hạn. Tuy nhiên, lợi thế về chi phí vốn không phải lúc nào cũng rõ ràng, bởi doanh nghiệp và tổ chức phát hành còn phải tính đến lãi suất tham chiếu quốc tế, chênh lệch tín dụng, chi phí thu xếp, xếp hạng tín nhiệm và phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Về dài hạn, việc Chính phủ và các tổ chức tài chính Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào thị trường vốn quốc tế không chỉ mở rộng kênh huy động vốn mà còn góp phần xây dựng đường cong lợi suất tham chiếu quốc tế và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư.










