Logo

Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VGT): Lãi ròng 9 tháng bứt phá 53%, ngành sợi và may đồng loạt khởi sắc

Khánh Trang

Báo cáo tài chính quý III năm 2026 của Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) cho thấy bức tranh kinh doanh tích cực với mức lãi ròng 9 tháng tăng 53%. Việc tận dụng đà phục hồi của mảng sợi và tăng tốc sản xuất ngành may trước thềm chính sách thuế mới của Mỹ có hiệu lực đã đóng góp trực tiếp vào đà tăng trưởng của doanh nghiệp.

Lợi nhuận 9 tháng tăng 53% nhờ sự phục hồi của mảng sợi và may xuất khẩu

Báo cáo tài chính quý III năm 2026 của Tập đoàn Dệt May Việt Nam (mã chứng khoán VGT) ghi nhận doanh thu thuần đạt 5.296 tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Điểm sáng lớn nhất trong kỳ là tốc độ tăng của giá vốn hàng bán chậm hơn đà tăng doanh thu, ghi nhận ở mức 4.516 tỷ đồng. Yếu tố này giúp lợi nhuận gộp của doanh nghiệp bứt phá 31%, đạt 780 tỷ đồng, qua đó kéo biên lợi nhuận gộp cải thiện mạnh từ mức 12% lên 15%.

Cấu trúc chi phí trong quý III có sự phân hóa. Doanh thu hoạt động tài chính tăng 75%, đạt 93 tỷ đồng, trong khi chi phí tài chính được tiết giảm 22%, lùi về mức 60 tỷ đồng. Tuy nhiên, các khoản chi phí vận hành lại phình to, cụ thể chi phí bán hàng tăng 12% lên 146 tỷ đồng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng nhẹ 2% lên mức 290 tỷ đồng. Khoản lợi nhuận từ các công ty liên doanh và liên kết cũng ghi nhận mức giảm 25%, chỉ còn đóng góp 162 tỷ đồng. Bất chấp sự gia tăng của chi phí bán hàng và sự sụt giảm từ công ty liên kết, lực kéo từ lợi nhuận gộp đã giúp Vinatex báo lãi ròng 324 tỷ đồng trong quý III, tăng 44% so với cùng kỳ năm trước.

Lý giải về kết quả kinh doanh khởi sắc, ban lãnh đạo doanh nghiệp cho biết sự cải thiện đến đồng đều từ cả hai mảng kinh doanh cốt lõi. Đối với ngành sợi, giá bán trên thị trường phục hồi mạnh mẽ đã tạo điều kiện cho các đơn vị thành viên tận dụng được khoảng chênh lệch giữa giá bán ra và giá nguyên liệu đầu vào. Công tác quản trị sản xuất được tối ưu hóa cũng góp phần nâng cao năng suất và sản lượng. Đối với ngành may, đây vẫn là lĩnh vực đóng góp tỷ trọng lợi nhuận lớn nhất cho tập đoàn. Các nhà máy không chỉ duy trì được tệp khách hàng truyền thống mà còn chủ động mở rộng sang các thị trường xuất khẩu mới. Đặc biệt, các đơn vị đã đẩy nhanh tiến độ sản xuất và giao hàng để đáp ứng yêu cầu nhận hàng sớm từ đối tác trước thời điểm chính sách thuế mới của Mỹ chính thức có hiệu lực. Khối lượng đơn hàng thực hiện nhờ đó tăng mạnh so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, Vinatex ghi nhận doanh thu thuần 14.797 tỷ đồng, tăng 8% và lợi nhuận ròng đạt 886 tỷ đồng, bứt phá 53% so với cùng kỳ năm trước.

Tích lũy hàng nghìn tỷ đồng tiền gửi, kéo giảm quy mô nợ vay tài chính

Tính đến ngày 30/09/2026, tổng tài sản của Vinatex đạt 21.112 tỷ đồng, tăng 2% so với thời điểm đầu năm. Trong đó, tài sản ngắn hạn chiếm 53% cơ cấu tổng tài sản, đạt mức 11.125 tỷ đồng, tăng 3%. Đáng chú ý, lượng tiền và các khoản tương đương tiền giảm 50% xuống còn 479 tỷ đồng, nhưng chỉ tiêu đầu tư tài chính ngắn hạn lại tăng vọt 40% lên mức 4.535 tỷ đồng, chủ yếu cấu thành từ các khoản tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn. Chỉ tiêu hàng tồn kho được kiểm soát tốt khi giảm 19%, lùi về mức 2.811 tỷ đồng. Các khoản phải thu ngắn hạn ghi nhận 2.936 tỷ đồng, tăng 6%, bao gồm các khoản công nợ lớn từ đối tác Motives international Hong Kong Limited với hơn 150 tỷ đồng và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Coats Phong Phú với gần 334 tỷ đồng.

Quy mô tài sản dài hạn của Vinatex đạt 9.987 tỷ đồng, nhích nhẹ 2% so với đầu năm. Điểm nhấn nằm ở khoản đầu tư tài chính dài hạn tăng 7% lên 3.589 tỷ đồng, trong đó phần vốn rót vào các công ty liên doanh và liên kết chiếm tới 3.238 tỷ đồng. Chỉ tiêu tài sản cố định duy trì đi ngang ở mức 5.074 tỷ đồng, trong khi chi phí xây dựng cơ bản dở dang giảm 21%, còn 459 tỷ đồng.

Về cơ cấu nguồn vốn, tổng nợ phải trả của Vinatex tại thời điểm cuối quý III ghi nhận 9.930 tỷ đồng, giảm 6% so với đầu năm. Sự sụt giảm này chủ yếu đến từ nợ ngắn hạn khi lùi về mức 7.557 tỷ đồng. Nợ vay tài chính ngắn hạn tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng đã được cắt giảm 17%, còn 4.084 tỷ đồng. Các khoản phải trả người lao động tăng 17% lên 1.131 tỷ đồng và phải trả người bán tăng 11% lên 1.148 tỷ đồng. Nghĩa vụ thuế phải nộp Nhà nước cũng tăng từ 83 tỷ đồng lên 226 tỷ đồng. Nợ dài hạn giảm 5% xuống còn 2.373 tỷ đồng, chủ yếu là dư nợ vay dài hạn ở mức 1.718 tỷ đồng. Việc tiết giảm nợ vay kết hợp với lợi nhuận tích lũy đã giúp vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tăng 11% lên 11.182 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn góp của chủ sở hữu tiếp tục duy trì mốc 5.000 tỷ đồng.