Hoàn thiện thể chế – đòn bẩy cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Ngày 20 tháng 3 tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo “Lấy ý kiến đối với dự thảo Báo cáo kết quả rà soát, đề xuất giải pháp hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số”.

Hội thảo do ông Hồ Quang Huy, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật chủ trì; tham dự có ông Hoàng Xuân Hoan - Phó Cục trưởng, đại diện Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Bộ Tư pháp), Vụ Pháp chế (Bộ Khoa học và Công nghệ), các Sở, ngành, hiệp hội, doanh nghiệp thuộc các địa phương khu vực phía Nam.
Hệ thống pháp luật – nền tảng cho đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Theo dự thảo báo cáo, chỉ trong năm 2025, đã có 220 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được ban hành, bao gồm luật, nghị định, quyết định và thông tư. Đây là minh chứng rõ nét cho quyết tâm chính trị trong việc thể chế hóa kịp thời các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là quan điểm “thể chế đi trước một bước”.
Hệ thống văn bản này đã góp phần tạo lập hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia. Nhiều chính sách mới đã thể hiện tư duy cởi mở hơn, chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, từng bước tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp và người dân.
Đáng chú ý, quá trình rà soát đã huy động sự tham gia rộng rãi của các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp, qua đó bảo đảm tính khách quan, đa chiều trong đánh giá. Đây cũng là bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi phương thức xây dựng pháp luật theo hướng dựa trên thực tiễn và phản hồi của thị trường.
Những “điểm nghẽn” thể chế cần sớm tháo gỡ
Kết quả tổng hợp cho thấy có 117 kiến nghị liên quan đến 45 văn bản quy phạm pháp luật tồn tại các bất cập. Các vấn đề nổi bật có thể phân thành bốn nhóm chính.

Thứ nhất, tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định vẫn tồn tại. Có 13 nội dung thuộc 10 văn bản được xác định có xung đột pháp lý, điển hình là sự không thống nhất về thẩm quyền tuyển chọn Tổng công trình sư giữa các văn bản khác nhau. Điều này dẫn đến lúng túng trong tổ chức thực hiện, thậm chí làm phát sinh rủi ro pháp lý cho cơ quan thực thi.
Thứ hai, nhiều quy định còn thiếu rõ ràng, mang tính định tính, dẫn đến cách hiểu không thống nhất. Có tới 39 nội dung thuộc 21 văn bản gặp tình trạng này. Ví dụ, các tiêu chí như “giàu kinh nghiệm” trong tuyển chọn chuyên gia chưa được lượng hóa, khiến việc áp dụng phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan.
Thứ ba, gánh nặng chi phí tuân thủ và khoảng trống pháp lý vẫn là rào cản lớn. 46 nội dung trong 14 văn bản phản ánh tình trạng này. Đáng chú ý là việc thiếu hướng dẫn cụ thể về phân loại rủi ro trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong triển khai và quản trị rủi ro.
Thứ tư, thủ tục hành chính vẫn chưa thực sự được cải cách triệt để. Có 19 nội dung thuộc 16 văn bản chưa đáp ứng yêu cầu về đơn giản hóa, chuẩn hóa và số hóa thủ tục. Tình trạng yêu cầu hồ sơ trùng lặp, chưa tái sử dụng dữ liệu vẫn phổ biến, làm gia tăng chi phí và thời gian cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, tình trạng “nợ đọng” văn bản hướng dẫn chi tiết vẫn tồn tại, tạo ra khoảng trống pháp lý và làm giảm hiệu lực của các quy định đã ban hành.
Nguyên nhân của các bất cập này đến từ nhiều phía, bao gồm tốc độ phát triển nhanh của công nghệ vượt quá khả năng cập nhật của pháp luật; năng lực xây dựng chính sách còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ; và tư duy quản lý còn nặng về kiểm soát.
Tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Phó Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh nêu lên rất nhiều khó khăn vướng mắc từ thẩm quyền cho tới cách thức thực hiện vì có nhiều văn bản gây khó hiểu, chồng chéo. Bà Huệ nêu ví dụ về quỹ phát triển khoa học công nghệ hiện nay TP.HCM không biết thực hiện cách nào cho đúng vì trước đây quỹ này của 3 địa phương có sự quản lý khác nhau, ở TP.HCM thì thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, nhưng ở Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu lại thuộc UBND tỉnh quản lý…

Giải pháp hoàn thiện thể chế trong giai đoạn tới
Theo các đại biểu chia sẻ cũng như dự thảo báo cáo thì, để khắc phục những tồn tại trên, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: Cơ quan quản lý nhà nước, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng linh hoạt, mở và thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ. Việc áp dụng quy trình rút gọn trong sửa đổi, bổ sung văn bản cần được đẩy mạnh nhằm xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh. Cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ kiểm soát thủ tục sang kiểm soát chi phí tuân thủ. Việc số hóa toàn bộ quy trình hành chính, tái sử dụng dữ liệu và chuẩn hóa biểu mẫu là yêu cầu cấp thiết.
Một giải pháp quan trọng khác là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia có hiểu biết sâu về công nghệ mới. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đối với doanh nghiệp, cần chủ động tham gia vào quá trình góp ý xây dựng chính sách, phản ánh kịp thời những vướng mắc trong thực tiễn. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật, đầu tư vào quản trị rủi ro và thích ứng với các yêu cầu mới của môi trường pháp lý.
Ngoài ra, việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm cũng là yếu tố quan trọng nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo trong khu vực công.
Có thể khẳng định, hoàn thiện thể chế không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nếu được thực hiện đồng bộ, quyết liệt, đây sẽ là “đòn bẩy” quan trọng giúp Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số.









