---
title: "Xem xét thận trọng việc tăng giá trần vé máy bay"
avatar: https://cdn.baophapluat.vn/uploaded/images/2026/01/07/262b5c5d-997b-4290-971d-848d35d672e3.jpg
slug: xem-xet-than-trong-viec-tang-gia-tran-ve-may-bay-40077
url: https://doanhnhan.baophapluat.vn/xem-xet-than-trong-viec-tang-gia-tran-ve-may-bay-40077.html
published_at: 17:07 04/05/2021
updated_at: 17:07 04/05/2021
authors: 
source:
  name: Báo Pháp Luật Việt Nam
  domain: baophapluat.vn
  type: press
category: Doanh nghiệp
topics:
  - tăng giá trần vé máy bay
  - Vietnam Airlines
language: vi
content_type: article
---

# Xem xét thận trọng việc tăng giá trần vé máy bay

## Ngày 4/5, Bộ Tài chính cho biết, việc xem xét điều chỉnh mức trần khung giá vé máy bay của Vietnam Airlines, cơ quan quản lý nhà nước phải xem xét thận trọng trên nguyên tắc công khai, minh bạch, rà soát từng yếu tố chi phí hợp lý cấu thành giá vé máy bay.

Theo Bộ Tài chính, về thẩm quyền quy định khung giá dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa, theo quy định tại khoản 27 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 61/2014/QH13 ngày 21/11/2014: “Hãng hàng không quyết định giá dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa trong khung giá do Bộ Giao thông Vận tải quy định và thực hiện kê khai giá với Bộ Giao thông Vận tải”.

![](https://cdn.baophapluat.vn/uploaded/images/2026/01/07/89f03e5e-df3d-4985-8bdb-bebaf15f4583.jpg)

Máy bay của Vietnam Airlines. Ảnh: Huy Hùng/TTXVN

Theo đó, việc xem xét điều chỉnh khung giá (bao gồm giá trần và giá sàn) _dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa_ thuộc thẩm quyền của _Bộ Giao thông Vận tải._

Về nguyên tắc định giá nhà nước, được quy định tại Điều 20 Luật Giá gồm: Bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế hợp lý, có lợi nhuận phù hợp với mặt bằng giá thị trường và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. Kịp thời điều chỉnh giá khi các yếu tố hình thành giá thay đổi.

Theo Bộ Tài chính, qua phản ánh của báo chí, đây mới chỉ là phương án _đề xuất của [Vietnam Airlines](https://doanhnhan.vn/co-phieu-hvn-cua-vietnam-airlines-tiep-tuc-bi-dua-vao-dien-canh-bao-sau-khi-bi-hose-cat-margin-39296.html "Cổ phiếu HVN của Vietnam Airlines tiếp tục bị đưa vào diện cảnh báo sau khi bị HoSE cắt margin")_. Việc xem xét điều chỉnh mức trần khung giá vé máy bay, cơ quan quản lý nhà nước sẽ phải xem xét thận trọng trên nguyên tắc công khai, minh bạch và rà soát từng yếu tố chi phí hợp lý, hợp lệ cấu thành giá vé máy bay theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh thích hợp (nếu có), đảm bảo phù hợp chủ trương ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát bình quân; hài hòa lợi ích của người dân, doanh nghiệp và nhà nước.

Trước đề xuất của _Vietnam Airlines_ về việc tăng giá trần và áp giá sàn vé máy bay, nhiều ý kiến của các doanh nghiệp cho rằng nên để khách hàng và thị trường quyết định.

Một số chuyên gia cho rằng, việc xem xét điều chỉnh giá trần để phù hợp với đầu vào, cơ quan chức năng cần xem xét. Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) cần ngồi lại để cân nhắc. Trong bối cảnh hiện nay có thể điều chỉnh tăng là hợp lý nhưng cần phải xem xét hết sức thận trọng.

Trước đó, tại cuộc họp với Cục Hàng không Việt Nam, Vietnam Airlines đã đưa ra kiến nghị tăng mức giá trần từ 50.000 - 250.000 đồng/khách. Giá sàn được kiến nghị theo 2 phương án: bằng 35% mức giá trần theo từng cự ly hoặc chi phí biến đổi trung bình một ghế theo từng nhóm cự ly của các hãng hàng không giá rẻ.

Theo đó, với cự ly dưới 500 km, nhóm địa bàn phát triển kinh tế - xã hội, đề xuất giữ nguyên giá trần, song áp giá sàn là 414.000 đồng hoặc 560.000 đồng (phương án 35% giá trần). Còn với nhóm địa bàn khác, giá sàn ở mức 414.000 đồng hoặc 595.000 đồng.

Giá trần hiện nay cho nhóm đường bay từ 500 - 850 km, giá trần 2,2 triệu đồng/vé được đề xuất tăng lên 2,25 triệu đồng/vé; 850 - 1.000 km từ 2,79 triệu đồng/vé lên 2,89 triệu đồng/vé; cự ly 1.000 - 1.280 km từ 3,2 triệu đồng/vé lên 3,4 triệu đồng/vé... Với các cự ly nêu trên, giá sàn được đề xuất lần lượt là 570.000 - 787.500 đồng/vé, 755.000 - hơn 1 triệu đồng/vé; 804.000 - 1.190.000 đồng/vé.
