Logo

Nông sản Việt cần chiến lược xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị

Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm cần đi đôi với xây dựng thương hiệu, minh bạch nguồn gốc và đổi mới phương thức tiếp cận khách hàng. Đây là những vấn đề được các chuyên gia trao đổi tại hội thảo “Nông sản Việt: Từ nguyên liệu đến thương hiệu”, diễn ra ngày 5/11 tại Hà Nội.

Các chuyên gia chia sẻ giải pháp xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh cho nông sản Việt. (Ảnh trong bài: BTC)
Các chuyên gia chia sẻ giải pháp xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh cho nông sản Việt. (Ảnh trong bài: BTC)

Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ Triển lãm Vietfood & Beverage - Propack, với sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển bền vững, xây dựng thương hiệu, truyền thông thương mại và đại diện doanh nghiệp sản xuất, chế biến, phân phối nông sản.

Bà Đào Thu Hà phát biểu khai mạc hội thảo.

Phát biểu khai mạc, bà Đào Thu Hà - Giám đốc điều hành Triển lãm sự kiện 2 - Công ty Vinexad nhấn mạnh, Việt Nam có lợi thế về nguồn nguyên liệu nông sản phong phú, song chất lượng tốt chưa đồng nghĩa với giá trị thương hiệu cao. Nhiều sản phẩm vẫn thiếu đầu tư bài bản về công nghệ chế biến, tiêu chuẩn chất lượng, bao bì và hệ thống phân phối, khiến giá trị thương mại chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, doanh nghiệp cần hướng tới kiến tạo niềm tin, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế nông sản Việt trên thị trường trong nước và quốc tế.

Đề cập đến yêu cầu xây dựng thương hiệu, bà Lê Thị Dung - Viện trưởng Viện Doanh Trí, Tổng Giám đốc DGroup Training cho rằng, sản phẩm tốt mới là lợi thế ban đầu, chưa đủ để bảo đảm khả năng bán hàng với giá trị cao hoặc xây dựng thương hiệu mạnh. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào sản xuất mà chưa quan tâm đúng mức đến nghiên cứu nhu cầu khách hàng và chiến lược thương mại.

Bà Lê Thị Dung phát biểu tại hội thảo.

Theo bà Dung, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy bán những gì mình có sang phát triển thương hiệu dựa trên nhu cầu thị trường, câu chuyện giá trị và sự khác biệt của sản phẩm. Việc kết nối với chuyên gia, công nghệ và các kênh phân phối phù hợp cũng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phát triển, đưa sản phẩm đến gần khách hàng hơn. Thay vì chỉ chú trọng làm ra sản phẩm tốt, doanh nghiệp cần khiến thị trường nhận diện, tin tưởng và sẵn sàng trả mức giá tương xứng với giá trị sản phẩm.

Từ tư duy sản xuất đến quản trị chuỗi giá trị

Ông Trần Hồng Hải - Viện trưởng Viện Sinh thái Nhân văn và Phát triển Bền vững nhận định, Việt Nam có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, đa dạng sinh học và điều kiện thổ nhưỡng. Tuy nhiên, chuỗi giá trị nông sản còn thiếu liên kết, sản xuất manh mún, khiến nhiều sản phẩm dù có chất lượng tốt vẫn khó tiếp cận hệ thống phân phối lớn và thị trường quốc tế.

Ông Trần Hồng Hải đề cập vai trò của dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi trong nâng cao giá trị nông sản.

Theo ông Hải, chất lượng nông sản cần đáp ứng yêu cầu của nhiều bên trong chuỗi cung ứng. Người tiêu dùng quan tâm đến an toàn thực phẩm, hương vị và nguồn gốc; nông dân chú trọng năng suất, chi phí và sự ổn định của giá bán; trong khi nhà thu mua, phân phối đòi hỏi chất lượng đồng đều, nguồn cung ổn định và khả năng kiểm soát rủi ro.

Để nâng cao độ tin cậy, doanh nghiệp cần chuyển từ niềm tin cảm tính sang niềm tin dựa trên dữ liệu. Nhật ký canh tác điện tử, mã số vùng trồng, kết quả kiểm định và công cụ truy xuất nguồn gốc giúp minh bạch quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm. Các chứng nhận hữu cơ, chỉ dẫn địa lý và tiêu chuẩn giảm phát thải cũng góp phần tăng sức cạnh tranh cho nông sản.

Bên cạnh đó, hợp tác xã (HTX) cần phát huy vai trò tổ chức sản xuất, liên kết các hộ nông dân và kết nối với doanh nghiệp. Đây là cơ sở để khắc phục tình trạng manh mún, hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu về sản lượng và chất lượng.

Ông Hải cũng đề cập việc ứng dụng drone, cảm biến quang học để theo dõi sức khỏe cây trồng, phát hiện sâu bệnh và tối ưu sử dụng vật tư nông nghiệp. Cùng với đó, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm và đo lường, xác minh mức giảm phát thải có thể tạo thêm giá trị kinh tế cho sản xuất.

Ban tổ chức tặng quà lưu niệm các diễn giả tại hội thảo.

Từ những yêu cầu trên, ông Hải nhấn mạnh doanh nghiệp cần chuyển từ cách làm sản xuất rồi mới tìm đầu ra sang nghiên cứu nhu cầu và dữ liệu thị trường trước khi tổ chức sản xuất. Cách tiếp cận này giúp hạn chế rủi ro, nâng cao tính bền vững của chuỗi giá trị.

Xây dựng thương hiệu, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường

Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Chủ tịch Sao Kim Branding, Phó Chủ tịch CLB CEO 1983 cho rằng, nhiều doanh nghiệp nông sản vẫn loay hoay với câu hỏi bán sản phẩm ở mức giá nào mà chưa xác định được giá trị khác biệt để thuyết phục khách hàng. Lợi thế về điều kiện tự nhiên và nguồn nguyên liệu mới là nền tảng; doanh nghiệp cần chuyển hóa lợi thế đó thành giá trị thông qua định vị, phát triển sản phẩm và chiến lược thương hiệu. Ông Tuấn dẫn ví dụ về sản phẩm trà: trà thô Việt Nam có thể được bán với giá khoảng 200.000 đồng/kg, trong khi một số thương hiệu trà ngoại nhập có giá lên tới 10 triệu đồng/kg. Theo ông, sự khác biệt nằm ở thương hiệu, cách định vị, trải nghiệm và giá trị sản phẩm mang lại cho người tiêu dùng.

Ông Nguyễn Thanh Tuấn chia sẻ về chiến lược định vị và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp nông sản.

Xây dựng thương hiệu vì thế không dừng ở logo, bao bì hay quảng cáo, mà là quá trình tạo dựng nhận thức và trải nghiệm trong tâm trí khách hàng. Doanh nghiệp cần xác định rõ ai là người mua, vì sao khách hàng lựa chọn sản phẩm và bằng chứng nào chứng minh chất lượng, nguồn gốc cũng như giá trị khác biệt. Câu chuyện sản phẩm, bản sắc địa phương và bao bì được đầu tư phù hợp cũng là những yếu tố góp phần tạo lợi thế cạnh tranh.

Theo ông Tuấn, chiến lược phát triển thương hiệu cần kết hợp ba yếu tố: chiến lược, sáng tạo và lan tỏa. Doanh nghiệp phải xác định đúng giá trị cốt lõi, thể hiện nhất quán qua sản phẩm và trải nghiệm, từ đó xây dựng niềm tin và thúc đẩy khách hàng gắn bó lâu dài.

Bà Tô Quỳnh Mai phân tích vai trò của truyền thông số, KOL/KOC trong kết nối thương hiệu nông sản với người tiêu dùng.

Trong khi đó, bà Tô Quỳnh Mai - Chủ tịch sáng lập TQM, Ủy viên Ban Thường vụ CLB KOL/KOC Việt Nam cho rằng, video ngắn, livestream và mô hình kết hợp trực tiếp với trực tuyến (Hybrid) đang mở ra cơ hội tiếp cận khách hàng cho doanh nghiệp nông sản. Ngay cả khi sản phẩm có các chứng nhận như USDA, EU Organic hay VietGAP, người tiêu dùng vẫn quan tâm đến chất lượng thực tế và tính minh bạch trong quá trình sản xuất.

Do đó, doanh nghiệp cần tận dụng truyền thông số để giới thiệu hình ảnh chân thực từ trang trại, quy trình chăm sóc, thu hoạch đến chế biến sản phẩm. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, video ngắn và livestream còn là công cụ giúp tối ưu chi phí tiếp cận thị trường. Vai trò của KOL/KOC cũng được nhấn mạnh trong việc kết nối thương hiệu với người tiêu dùng thông qua trải nghiệm và đánh giá sản phẩm.

Đáng chú ý, mô hình Hybrid kết hợp trưng bày tại gian hàng với livestream trực tuyến, kể cả bằng nhiều ngôn ngữ, có thể giúp doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm, tiếp cận khách hàng và kết nối đối tác quốc tế.

Các diễn giả trao đổi tại tọa đàm.

Trong khuôn khổ hội thảo, các chuyên gia và đại diện doanh nghiệp còn tham gia tọa đàm, trao đổi về những khó khăn trong phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Các ý kiến cho thấy, nâng cao giá trị nông sản Việt cần sự chuyển đổi đồng bộ từ tổ chức sản xuất, quản trị chuỗi cung ứng đến xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Khi chất lượng được bảo chứng bằng dữ liệu, sản phẩm có giá trị khác biệt và thương hiệu được lan tỏa bằng phương thức phù hợp, nông sản Việt sẽ có thêm cơ hội nâng cao giá trị thương mại và sức cạnh tranh.