---
title: "Luật Thủ đô (sửa đổi): Đảm bảo minh bạch, kiểm soát được rủi ro trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số"
avatar: https://cdn.baophapluat.vn/uploaded/images/2026/04/12/e972f1b2-3953-42d3-aa0b-8937ed0f4586.jpg
slug: luat-thu-do-sua-doi-dam-bao-minh-bach-kiem-soat-duoc-rui-ro-trong-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-4efc005b
url: https://doanhnhan.baophapluat.vn/luat-thu-do-sua-doi-dam-bao-minh-bach-kiem-soat-duoc-rui-ro-trong-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-4efc005b.html
published_at: 06:12 12/04/2026
updated_at: 06:12 12/04/2026
authors: Tường Minh
source:
  name: Báo Pháp Luật Việt Nam
  domain: baophapluat.vn
  type: press
category: Pháp luật
topics:
  -  Khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo
  -  Tác động chính sách mới
  - luật thủ đô
  -  Hà Nội
  -  thử nghiệm có kiểm soát
language: vi
content_type: article
---

# Luật Thủ đô (sửa đổi): Đảm bảo minh bạch, kiểm soát được rủi ro trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

## Sáng 12/4, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi). Tại phiên họp, quy định về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm, cho ý kiến.

**Làm rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng để đảm bảo minh bạch**

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) đánh giá rất cao quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Điều 19 của Dự thảo Luật.

Theo đại biểu, đây là một bước tiến quan trọng, thể hiện tư duy lập pháp hiện đại, cho phép Thủ đô có không gian linh hoạt để thử nghiệm các mô hình, công nghệ và giải pháp mới trong những lĩnh vực mang tính đột phá, đặc biệt trong bối cảnh khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang phát triển rất nhanh.

“Việc cho phép thử nghiệm có kiểm soát trong các lĩnh vực này cũng là cách tiếp cận rất phù hợp, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn pháp lý và kiểm soát rủi ro trong quá trình triển khai, qua đó, tạo điều kiện để các chính sách mới được kiểm chứng trong thực tiễn trước khi mở rộng áp dụng”, đại biểu nói.

Tuy nhiên, ở góc độ thực thi chính sách, đại biểu lưu ý 3 vấn đề; bao gồm chuyển từ “quản lý rủi ro” sang “định giá rủi ro”; chuyển từ “cấp phép thử nghiệm” sang “thiết kế vòng đời thử nghiệm”; và cần nhấn mạnh đồng thời 2 yêu cầu là bảo vệ những người tham gia thử nghiệm và bảo đảm tính liêm chính của thử nghiệm.

“Chúng ta rất coi trọng việc bảo vệ những người tham gia thử nghiệm, đây là một nguyên tắc đúng đắn và rất cần thiết để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, song song với đó, tôi cho rằng cũng cần đặc biệt nhấn mạnh đến việc bảo đảm tính trung thực của dữ liệu và kết quả thử nghiệm", đại biểu nói.

Theo đại biểu, nếu dữ liệu bị bóp méo, nếu báo cáo không phản ánh đúng thực tế, thì toàn bộ cơ chế thử nghiệm sẽ mất ý nghĩa. Đây chính là ranh giới rất mong manh giữa chấp nhận rủi ro để đổi mới và lợi dụng cơ chế thử nghiệm để trục lợi chính sách.

"Chúng ta có thể chấp nhận thất bại trong nghiên cứu, nhưng không thể chấp nhận sự không trung thực trong thử nghiệm”, đại biểu nêu rõ.

Theo cách tiếp cận này, đại biểu đánh giá, Điều 19 không chỉ là một cơ chế thử nghiệm đơn thuần, mà là cách chúng ta tổ chức lại việc chấp nhận rủi ro trong quản lý nhà nước.

“Chúng ta chấp nhận rủi ro, nhưng đó phải là rủi ro có cơ sở, có đo lường và có giới hạn rõ ràng. Đồng thời, cần hết sức lưu ý để cơ chế thử nghiệm không bị biến thành lý do hợp thức hóa những thất bại do yếu kém trong tổ chức thực hiện hoặc bị lợi dụng cho mục tiêu không đúng thiết kế ban đầu. Nếu làm tốt, cơ chế này không chỉ giúp thúc đẩy đổi mới công nghệ, mà còn góp phần nâng cao chất lượng ra quyết định và năng lực thực thi chính sách của bộ máy quản lý nhà nước”, đại biểu nói.

Cũng quan tâm đến chính sách khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại dự thảo Luật, đại biểu Tráng A Dương (đoàn Lào Cai) cơ bản nhất trí với việc trao quyền cho HĐND thành phố quy định các cơ chế, chính sách đặc thù về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Đại biểu chỉ ra, dự thảo Luật đã cho phép thành phố Hà Nội ban hành các cơ chế ưu đãi hỗ trợ phát triển hạ tầng, tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

“Đây là hướng tiếp cận đúng nhưng cần đảm bảo tính đồng bộ, tránh dàn trải và trùng lặp khi thực hiện chính sách”, đại biểu nói.

Về nguồn lực tài chính và công cụ đầu tư, đại biểu đánh giá, việc cho phép thành lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo cũng như Quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách thành phố là một bước đột phá. Đặc biệt, nguyên tắc quản lý cơ chế thị trường chấp nhận rủi ro là cần thiết nhưng cần quy định rõ hơn về cơ chế kiểm soát rủi ro, giải trình để tránh thất thoát lãng phí.

Về cơ chế khuyến khích và khai thông nguồn lực xã hội, theo đại biểu, quy định cho phép chi phí nghiên cứu đổi mới sáng tạo với mức khấu trừ thuế không thấp hơn 200% là một ưu đãi rất mạnh. Song, cần làm rõ về tiêu chí, điều kiện áp dụng để đảm bảo minh bạch, tránh bị lợi dụng chính sách.

Đặc biệt quan tâm đến quy định cho phép các cơ sở giáo dục, tổ chức khoa học công nghệ công lập và viên chức tham gia thành lập, góp vốn điều hành doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đại biểu Tráng A Dương đánh giá đây là điểm rất tiến bộ trong dự thảo luật nhưng cần thiết phải có cơ chế kiểm soát, tránh xung đột lợi ích để đảm bảo công khai minh bạch.

Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện nội dung này theo hướng tập trung minh bạch, kiểm soát được rủi ro để tạo chính sách này đi vào cuộc sống và tạo đột phá cho Thủ đô.

**Bổ sung cơ chế, chính sách nhằm phát triển hệ thống trường công lập**

Liên quan đến quy định về phát triển giáo dục và đào tạo, theo đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, Điều 16 của Luật Thủ đô hiện nay tập trung vào việc xác định định hướng phát triển giáo dục của Thủ đô theo hướng xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm lớn về giáo dục và đào tạo của cả nước; ưu tiên phát triển giáo dục chất lượng cao; khuyến khích thu hút nguồn lực xã hội và hợp tác quốc tế trong giáo dục.

Tuy nhiên, các quy định tại Điều 16 chưa có những chính sách rõ về phát triển hệ thống trường công lập; chưa xác định cơ chế đủ rõ để phát triển mạng lưới trường THPT công lập theo tốc độ gia tăng dân số; chưa có định hướng mang tính “đảm bảo năng lực tiếp nhận” của hệ thống trường công; chưa gắn phát triển trường công với nhu cầu thực tế theo từng khu vực đô thị.

Đại biểu nêu thực tiễn giáo dục hiện nay, khi hàng năm, Hà Nội có khoảng 140.000–150.000 học sinh tốt nghiệp THCS, trong khi chỉ tiêu vào hệ thống trường THPT công lập khoảng trên 80.000 chỗ học. Điều này dẫn tới việc chỉ khoảng hơn một nửa học sinh có cơ hội vào trường công lập.

"Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 vì vậy luôn có tính cạnh tranh rất cao, được xã hội đánh giá là một trong những kỳ thi có áp lực lớn nhất đối với học sinh trung học cơ sở. Áp lực này không chỉ nằm ở kỳ thi, mà còn kéo dài trong suốt quá trình học tập lớp 9, dẫn tới hiện tượng học thêm, dạy thêm diễn ra phổ biến, ảnh hưởng đến thời gian nghỉ ngơi và tâm lý của học sinh ở độ tuổi còn rất trẻ", đại biểu nói.

Từ phân tích trên, Đại biểu đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung rõ hơn định hướng và các cơ chế, chính sách nhằm phát triển hệ thống trường công lập nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn để Thủ đô có thể chủ động cân đối phát triển hệ thống trường công lập phù hợp với quy mô dân số, tốc độ đô thị hóa và nhu cầu học tập ngày càng lớn của người dân.

Qua đó, góp phần giảm áp lực tuyển sinh đầu cấp, ổn định tâm lý xã hội trong giáo dục, và bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục công bằng, chất lượng cho học sinh Thủ đô.
