Logo

Chuyển đổi số phải đo bằng thời gian, chi phí người dân tiết kiệm

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Vũ Hải Quân nhấn mạnh, chuyển đổi số phải được đánh giá bằng kết quả thực chất: năng suất cao hơn, chi phí thấp hơn, dịch vụ thuận tiện hơn và năng lực cạnh tranh được cải thiện. Từ nền tảng quốc gia đến từng xã, phường, hiệu quả chuyển đổi số cần được đo bằng những giá trị cụ thể mà người dân, doanh nghiệp nhận được.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Vũ Hải Quân cùng các đại biểu tham quan Triển lãm. (Ảnh: MST)
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Vũ Hải Quân cùng các đại biểu tham quan Triển lãm. (Ảnh: MST)

Chuyển đổi số phải tạo ra giá trị thực chất

Ngày 9/10, tại Trung tâm Triển lãm Quốc gia Việt Nam (Đông Anh, Hà Nội), Bộ KH&CN tổ chức chương trình chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026, với nhiều hoạt động triển lãm, giới thiệu giải pháp công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm triển khai tại các bộ, ngành, địa phương.

Tại chương trình, vấn đề được đặt ra không chỉ là đã xây dựng bao nhiêu nền tảng, ứng dụng, mà quan trọng hơn là những công cụ ấy có giúp người dân tiết kiệm thời gian, doanh nghiệp giảm chi phí và cơ quan quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động hay không.

Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân nhấn mạnh, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng hàng đầu của phát triển. Thời gian qua, nền tảng phục vụ chuyển đổi số quốc gia tiếp tục được củng cố, hành lang pháp lý, Khung kiến trúc quốc gia số và các nền tảng số dùng chung từng bước được hoàn thiện.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Vũ Hải Quân phát biểu chào mừng Ngày chuyển đổi số Quốc gia 2026. (Ảnh: MST)

Đến tháng 9/2026, mạng 5G đã phủ sóng được 91,99% dân số; cáp quang đã đến 100% xã phường. Cả nước có 81.600 doanh nghiệp công nghệ số, doanh thu công nghiệp công nghệ số đạt gần 3,6 triệu tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, chuyển đổi số vẫn đối mặt với 5 thách thức lớn: tiến độ xây dựng dữ liệu ở một số lĩnh vực còn chậm; phát triển nền tảng số chưa đồng đều, đôi khi còn riêng lẻ; hạ tầng tính toán phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI) và vùng lõm sóng chưa được khắc phục triệt để; doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, ứng dụng AI chưa đạt kỳ vọng; nhân lực chuyên trách chuyển đổi số tại các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt ở cấp xã, còn thiếu.

Những hạn chế này cũng ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân trong lĩnh vực chuyển đổi số. Vì vậy, Bộ trưởng đề nghị tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm, gồm hoàn thiện thể chế và đổi mới quản lý; phát triển đồng bộ hạ tầng số, nền tảng số và dữ liệu dùng chung; xây dựng Chính phủ số lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; phát triển kinh tế số; xây dựng xã hội số bao trùm, phát triển nhân lực số và củng cố niềm tin số.

Trong đó, yêu cầu xuyên suốt là các chương trình phải được cụ thể hóa thành nhiệm vụ, sản phẩm, thời hạn và trách nhiệm rõ ràng. Hiệu quả cần được đánh giá bằng dữ liệu vận hành thực tế, mức độ sử dụng, thời gian và chi phí tiết kiệm được.

Các đại biểu bấm nút khởi động Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10-10. (Ảnh: MST)

Về dữ liệu, Bộ trưởng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, thống nhất và được chia sẻ theo phân quyền. Việc phát triển AI phải xuất phát từ bài toán thực tiễn, dựa trên dữ liệu chất lượng, có kiểm soát rủi ro và đo lường được kết quả.

Đối với Chính phủ số, số hóa phải đi cùng tái cấu trúc quy trình, tăng cường liên thông giữa các cơ quan và tái sử dụng thông tin Nhà nước đã có, hướng tới việc người dân, doanh nghiệp chỉ cần cung cấp thông tin một lần. Dịch vụ công cần thuận tiện, dễ sử dụng, giảm giấy tờ và không phụ thuộc vào địa bàn.

Chuyển đổi số cũng phải đi sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, gắn với đổi mới sản xuất, thương mại điện tử, thanh toán số và nâng cao năng suất. Cùng với đó là phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, sản phẩm Make in Viet Nam và làm chủ các công nghệ chiến lược.

Bộ trưởng khẳng định Bộ KH&CN sẽ đồng hành cùng các đơn vị, địa phương, doanh nghiệp và người dân trong quá trình triển khai. Mỗi khoản đầu tư cho chuyển đổi số phải tạo ra giá trị có thể đo đếm được.

Năm 2027, chuyển mạnh từ giới thiệu công nghệ sang giải bài toán thực tế

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long nhấn mạnh, năm 2027, Bộ sẽ thay đổi cách tiếp cận trong triển khai chuyển đổi số, chuyển từ giới thiệu sản phẩm công nghệ sẵn có sang xác định đúng nhu cầu và giải quyết đến cùng những vấn đề thực tiễn của người dân, doanh nghiệp và địa phương.

Theo Thứ trưởng, không nhất thiết phải bắt đầu từ những bài toán lớn. Những vấn đề cụ thể, nếu được giải quyết đúng và triệt để, cũng có thể tạo ra giá trị thiết thực. Thực tế triển khai các trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) tại một số địa phương cho thấy, dù được đầu tư, hệ thống chưa phát huy hiệu quả như mong muốn khi chưa đáp ứng đúng nhu cầu quản lý, điều hành.

Từ thực tiễn đó, Bộ sẽ tăng cường đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương trong triển khai nhiệm vụ khó; phối hợp thử nghiệm, hoàn thiện giải pháp và hỗ trợ đến khi có kết quả cụ thể.

Đối với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Bộ sẽ chủ động triển khai trước, đồng thời lựa chọn một địa phương để xây dựng mô hình hoàn chỉnh, làm cơ sở tham khảo cho các địa phương khác. Với đô thị thông minh, Bộ tổng hợp những bài toán đã được giải quyết thành các trường hợp điển hình để từng địa phương lựa chọn ứng dụng phù hợp. Mô hình chuyển đổi số cấp xã cũng sẽ được thí điểm trước khi nhân rộng.

Trong phát triển kinh tế số, Bộ tập trung hỗ trợ hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ. Bộ đã hoàn thành bộ công cụ gồm 13 ứng dụng hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số, hướng tới lựa chọn những giải pháp có khả năng tạo ra giá trị thực tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Cùng với đó, Bộ chú trọng đào tạo cán bộ chuyên trách chuyển đổi số cấp xã theo hướng cầm tay chỉ việc, dự kiến thí điểm tại khoảng 20 xã; đồng thời nâng cao năng lực cho các tổ công nghệ số cộng đồng thông qua các chương trình đào tạo trực tuyến.

Thứ trưởng Phạm Đức Long kỳ vọng những giải pháp này sẽ tạo chuyển biến thực chất trong năm 2027, giúp người dân tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước.

Người dân được lợi gì từ chuyển đổi số?

Từ thực tiễn Hà Nội, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Sở KH&CN thành phố Hà Nội, cho biết thành phố đang hướng tới tập trung các dịch vụ, tiện ích trên ứng dụng iHanoi, tạo một điểm tiếp cận thống nhất để người dân tra cứu thông tin, gửi phản ánh và sử dụng dịch vụ.

Phó Giám đốc Sở KH&CN Thành phố Hà Nội Nguyễn Anh Tuấn phát biểu tại Ngày hội. (Ảnh: MST)

Một ví dụ là HanoiCheck, tiện ích cho phép phụ huynh tiếp cận thông tin về thực đơn, bữa ăn và truy xuất nguồn gốc thực phẩm tại trường học. Theo ông Tuấn, hệ thống đã kết nối gần 1,5 triệu học sinh. Từ ngày 1/9 đến 8/10, HanoiCheck ghi nhận 247.339 lượt truy cập.

Đối với tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, iHanoi đã ghi nhận 263.395 phản ánh, kiến nghị. Theo cách tính được nêu tại chương trình, nếu trước đây người dân mất khoảng hai giờ để tìm hiểu quy định, viết và gửi đơn thì thao tác trên ứng dụng có thể rút xuống khoảng 15 phút.

Đây là mức ước lượng được đưa ra tại sự kiện, chưa phải kết quả đo lường mức tiết kiệm thực tế của toàn bộ phản ánh, kiến nghị. Dù vậy, cách tiếp cận cho thấy một yêu cầu quan trọng: hiệu quả chuyển đổi số cần được xem xét từ thời gian, công sức mà người sử dụng tiết kiệm được, thay vì chỉ tính số lượng ứng dụng hay lượt triển khai.

Theo ông Tuấn, xây dựng nền tảng mới chỉ là bước đầu. Để công nghệ phát huy tác dụng, dịch vụ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, đi cùng quy trình vận hành rõ ràng, dữ liệu được cập nhật và trách nhiệm xử lý cụ thể.

Tại phường Việt Hưng, Hà Nội, bản đồ số được triển khai trên nền tảng hệ thống thông tin địa lý với 9 lớp dữ liệu trọng tâm. Trong lĩnh vực trường học, 6/9 trường trên địa bàn đã triển khai mô hình căng tin thông minh; cả 7 chợ của phường đã triển khai mô hình Chợ 4.0.

Phường cũng xây dựng mô hình “Tổ dân phố số - Kết nối, đồng hành, phát triển”, hướng tới đưa thông tin đến đúng người, tiếp nhận phản ánh đúng nơi và xác định rõ trách nhiệm theo dõi, phản hồi. Những mô hình này cần tiếp tục được đánh giá bằng kết quả vận hành thực tế, không chỉ bằng số lượng đơn vị tham gia.

Ở góc độ nâng cao kỹ năng số cho người dân, ông Ngô Hồng Khang, Chủ tịch UBND phường Bình Phước, cho rằng trang bị thiết bị thông minh hay cài đặt ứng dụng chưa đồng nghĩa với việc người dân đã có năng lực số.

Ông Ngô Hồng Khang - Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Phước, thành phố Đồng Nai. (Ảnh: MST)

Để khắc phục tâm lý “sợ sai, sợ khó” khi nộp hồ sơ trực tuyến hoặc thanh toán không dùng tiền mặt, phường triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” cùng mô hình dân vận “Mỗi người dân là một công dân số”. Các thành viên tổ công nghệ số cộng đồng kiên trì “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, hướng dẫn từng thao tác để người dân có thể tự thực hiện.

Thực tế cho thấy, chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn liên quan đến cách tổ chức công việc, chất lượng dữ liệu, năng lực của đội ngũ hỗ trợ và khả năng tiếp cận của người dân.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Đức Long phát biểu tại sự kiện. (Ảnh: MST)

Trong khuôn khổ chương trình, các đại biểu tham quan Triển lãm Chuyển đổi số 2026, theo dõi phim tài liệu về những thành tựu nổi bật và trao đổi kinh nghiệm triển khai tại các đơn vị, địa phương. Chương trình cũng diễn ra nghi thức bấm nút khai trương Nền tảng ứng dụng chuyển đổi số cấp xã.

Từ những định hướng của Bộ trưởng đến các mô hình tại cơ sở, yêu cầu đặt ra ngày càng rõ: chuyển đổi số không thể chỉ được nhìn nhận qua hạ tầng, nền tảng hay số lượng ứng dụng. Thước đo quan trọng nhất phải là những thay đổi thực tế trong đời sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Khung kiến trúc số phải đi vào vận hành

Ông Trần Duy Ninh, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho biết Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số không đơn thuần là bản vẽ kỹ thuật hay danh mục phần mềm, mà là công cụ kết nối, liên thông, chia sẻ và dùng chung giữa các cơ quan. Khung giúp kế thừa hệ thống hiện có, hạn chế đầu tư phân tán, trùng lặp và tạo cơ sở để phát triển các hệ thống số thống nhất.

Khung gồm 4 lớp: hạ tầng số; dữ liệu và nền tảng lõi; ứng dụng nghiệp vụ; kênh tương tác, đo lường, cùng 4 thành phần xuyên suốt. Trên nền tảng chung này, mỗi bộ, ngành, địa phương xây dựng kiến trúc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của mình.

Theo ông Trần Duy Ninh, việc triển khai đòi hỏi chuyển từ đầu tư riêng lẻ sang sử dụng chung nền tảng; từ xây dựng Khung trên văn bản sang đánh giá mức độ tuân thủ trong các dự án; đồng thời thay báo cáo thủ công bằng giám sát dữ liệu trực tuyến.

Để hoàn thành nhiệm vụ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 29/1/2027, các cơ quan cần rà soát hiện trạng đến hết tháng 11/2026. Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng bộ chỉ số KPI, dự kiến hoàn thành trước ngày 31/12/2026, cùng Hệ thống quản lý kiến trúc số quốc gia (NAS) để quản lý, cập nhật hồ sơ trên toàn quốc. Cơ chế Khung kiến trúc sẽ hỗ trợ theo dõi mức độ tuân thủ, thay vì chỉ dựa vào báo cáo định kỳ.

Cục trưởng Trần Duy Ninh nhấn mạnh, hoàn thành Khung đúng hạn mới là yêu cầu ban đầu, còn vận hành theo Khung mới là mục tiêu. Việc đánh giá chuyển đổi số cần hướng tới những thay đổi có thể đo đếm như mức độ hài lòng của người dân, thời gian và chi phí xử lý công việc giảm xuống, năng lực quản lý và sử dụng nguồn lực công được nâng cao.