Logo

Biến động giá vật liệu: Từ “độ vênh” ở công trường đến áp lực lên đầu tư công

Hoàng Quân

(PLVN) - Từ những chênh lệch tưởng như chỉ nằm ở khâu mua bán vật liệu, thực tế đang cho thấy một vòng tác động rộng hơn nhiều: giá công bố không theo kịp biến động thị trường, chi phí thi công bị đội lên, nhà thầu dè dặt triển khai, tiến độ dự án chịu sức ép, còn chủ đầu tư đứng trước nguy cơ phải điều chỉnh dự toán, kéo dài thời gian thực hiện. Khi đó, câu chuyện không còn là khó khăn riêng của doanh nghiệp xây dựng, mà đã trở thành áp lực thực sự đối với đầu tư công.

Nhìn lại diễn biến thời gian qua, có thể thấy vấn đề giá vật liệu xây dựng không còn dừng ở những phản ánh mang tính cảm nhận. Chính các cơ quan quản lý và chủ đầu tư các dự án trọng điểm tại Hà Nội đã thừa nhận sự chênh lệch giữa giá công bố và giá thực tế tại công trường, đồng thời chỉ ra những hệ lụy ngày càng rõ đối với quá trình tổ chức thi công, điều hành chi phí và bảo đảm tiến độ dự án.

Theo Sở Xây dựng Hà Nội, việc công bố giá vật liệu xây dựng hiện nay được thực hiện trên cơ sở Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, Thông tư số 11/2021/TT-BXD và các văn bản sửa đổi, bổ sung như Thông tư số 14/2023/TT-BXD, Thông tư số 01/2025/TT-BXD, Thông tư số 60/2025/TT-BXD. Cơ chế này giúp chủ đầu tư có cơ sở lập, điều chỉnh dự toán, điều chỉnh hợp đồng và quản lý chi phí theo quy định.

Tuy nhiên, Sở cũng thừa nhận, tại thời điểm công bố, giá vật liệu cơ bản bám sát thị trường, song do đặc thù vật liệu – nhất là cát, đá, sỏi – phụ thuộc lớn vào nhân công, giá nhiên liệu và máy thi công, nên từ thời điểm thu thập số liệu đến khi công bố luôn tồn tại một độ chênh nhất định so với giá thực tế.

Giá công bố và giá thực tế: ‘Độ vênh’ không còn là cá biệt

Hiện nay, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội được UBND Thành phố giao làm chủ đầu tư hơn 55 dự án, trong đó có 7 dự án cầu lớn vượt sông Hồng cùng nhiều dự án trọng điểm quốc gia và của Thành phố. Trên cơ sở rà soát thực tế triển khai, Ban này cho biết “độ vênh” giữa giá công bố và giá thực tế tại công trường là đáng kể.

Theo thống kê tại một số dự án trong quý III và quý IV/2025, giá cát xây theo công bố quý III trung bình khoảng 342.000 đồng/m³, nhưng giá nhà thầu mua đến hiện trường khoảng 436.000 đồng/m³; sang quý IV, giá công bố khoảng 377.000 đồng/m³, trong khi giá thực tế khoảng 451.000 đồng/m³. Với cấp phối đá dăm lớp trên, giá công bố quý III khoảng 327.000 đồng/m³, còn giá thực tế khoảng 331.000 đồng/m³; quý IV lần lượt khoảng 343.000 đồng/m³ và 358.000 đồng/m³. Chênh lệch này đã đủ lớn để tác động trực tiếp đến chi phí thi công.

Nếu chỉ nhìn ở góc độ mua bán vật liệu, có thể coi đây là rủi ro thị trường mà nhà thầu phải dự liệu. Tuy nhiên, biến động lần này không diễn ra đơn lẻ. Theo thông tin từ Ban Giao thông, từ đầu tháng 3/2026, giá nhiên liệu trong nước có thời điểm tăng rất mạnh.

Cụ thể, tại thời điểm ngày 8/1/2026, giá dầu diesel 0,001S là 16.351 đồng/lít, giá xăng RON95-V là 17.925 đồng/lít. Đến ngày 26/3/2026, giá dầu diesel tăng lên 35.640 đồng/lít (tăng 117,9%), giá xăng RON95-V lên 24.730 đồng/lít (tăng 37,9%). Đến ngày 3/4/2026, giá dầu diesel tiếp tục lên 44.980 đồng/lít (tăng khoảng 175% so với ngày 8/1/2026), còn xăng RON95-V lên 27.370 đồng/lít (tăng 52,7%).

Cú sốc nhiên liệu và hiệu ứng dây chuyền lên chi phí xây dựng

Ban Giao thông đánh giá đây là giai đoạn biến động mạnh, vượt xa các kịch bản rủi ro thông thường đối với các dự án, qua đó tạo áp lực lớn lên chi phí thi công và giá vật liệu xây dựng.

Khi nhiên liệu tăng mạnh, sự lan tỏa sang chi phí xây dựng là khó tránh khỏi. Theo số liệu của Ban Giao thông, giá bê tông thương phẩm tăng trên 220.000 đồng/m³ cho toàn bộ các mác bê tông; các loại vật liệu rời như cát, đá, đất, đá dăm tăng khoảng 10–15%; xi măng bán tại nhà máy tăng khoảng 5%; các cấu kiện bê tông đúc sẵn tăng tối thiểu 10%. Do nhiên liệu là yếu tố đầu vào của hầu hết vật liệu xây dựng và chi phí ca máy thi công, nên biến động giá xăng dầu đã kéo theo hiệu ứng tăng giá lan rộng ra toàn bộ chuỗi cung ứng.

Ở góc độ chính sách vĩ mô, diễn biến này cũng trùng khớp với các cảnh báo từ Trung ương. Công điện số 25/CĐ-TTg ngày 21/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tăng cường giải pháp quản lý, bình ổn giá nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu xây dựng; tháo gỡ khó khăn và đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm. Tiếp đó, Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 1/4/2026 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tăng cường điều hành, kiểm soát giá trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới biến động phức tạp.

Các yêu cầu này cũng được đặt trong tổng thể thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có công tác quản lý, điều hành giá. Điều này cho thấy câu chuyện giá vật liệu không còn là vấn đề cục bộ của một vài dự án, mà đã trở thành nội dung điều hành ở cấp Chính phủ, gắn với yêu cầu ổn định thị trường và bảo đảm tiến độ đầu tư công.

Song tác động không dừng ở chi phí. Ban Giao thông cho biết các loại máy xây dựng tiêu thụ lượng nhiên liệu lớn mỗi ngày, trong khi nguồn cung có thời điểm không đáp ứng đủ nhu cầu thi công. Một số cửa hàng xăng dầu từ chối bán số lượng lớn bằng thùng phuy hoặc xe téc nhỏ, chỉ cung cấp hạn chế theo ngày. Cùng với việc nhiều dự án lớn đồng thời triển khai, nguồn vật liệu trở nên khan hiếm, cung cấp nhỏ giọt, làm gia tăng nguy cơ gián đoạn sản xuất tại các trạm trộn và công trường.

Từ đó, rủi ro thị trường nhanh chóng chuyển hóa thành rủi ro dự án. Theo Ban Giao thông, chi phí vật liệu và máy thi công tăng cao đã làm chi phí thực tế vượt xa đơn giá trong hợp đồng đã ký, ảnh hưởng lớn đến nguồn lực tài chính của nhà thầu, khiến việc thi công trở nên cầm chừng. Không chỉ vậy, biến động giá còn khiến một số dự án khi điều chỉnh dự toán bị vượt tổng mức đầu tư, buộc phải điều chỉnh dự án và kéo dài thời gian thực hiện. Việc điều chỉnh nhiều lần cũng làm kéo dài quy trình thẩm định, phê duyệt, tác động trực tiếp đến tiến độ và giải ngân vốn đầu tư công.

Về khung pháp lý, các quy định hiện hành không thiếu công cụ điều hành chi phí xây dựng. Nghị định số 10/2021/NĐ-CP quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Nghị định số 37/2015/NĐ-CP về hợp đồng xây dựng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 50/2021/NĐ-CP) quy định cơ chế điều chỉnh hợp đồng. Cùng với đó, Thông tư số 60/2025/TT-BXD tiếp tục hoàn thiện hệ thống định mức, phương pháp xác định chi phí và hướng dẫn khảo sát, thu thập, công bố giá vật liệu xây dựng.

Tuy nhiên, vấn đề của thực tiễn là thị trường biến động theo ngày, trong khi công cụ điều hành vẫn có độ trễ nhất định. Chính Sở Xây dựng Hà Nội cũng nêu rõ một khó khăn mang tính cấu trúc: giá vật liệu xây dựng không thuộc danh mục bình ổn giá; nhiều loại vật liệu không có cơ chế bắt buộc doanh nghiệp phải cung cấp giá giao dịch cho cơ quan quản lý; thông tin giá chủ yếu được thu thập qua khảo sát, trong khi doanh nghiệp có thể không cung cấp hoặc cung cấp chưa sát thực tế mà chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý.

Cần nhìn nhận rõ rằng, nếu tiếp tục coi đây chỉ là khó khăn trước mắt của nhà thầu, hệ quả sẽ không dừng ở phạm vi một hợp đồng hay một công trường. Khi giá vật liệu tăng nhanh, nguồn cung thiếu ổn định, nhà thầu cầm chừng thi công, dự toán phải điều chỉnh nhiều lần, tiến độ kéo dài và tổng mức đầu tư chịu sức ép, thì áp lực cuối cùng sẽ dồn lên đầu tư công. Đó không chỉ là áp lực về vốn, mà còn là áp lực về tiến độ, tổ chức thực hiện và hiệu quả sử dụng ngân sách.

Biến động giá vật liệu xây dựng, vì vậy, không còn là câu chuyện bên lề của thị trường xây dựng. Từ “độ vênh” ở công trường, nó đã trở thành bài toán của quản lý nhà nước và của đầu tư công. Muốn giữ tiến độ dự án, giữ hiệu quả vốn và duy trì nhịp phát triển hạ tầng, điều cần thiết lúc này là một cơ chế phản ứng theo kịp thị trường, dựa trên dữ liệu sát thực tế và có đủ công cụ để can thiệp kịp thời.